|
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 544/2025/HS-PT Ngày: 08/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hạnh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Bà Hoàng Thị Bích Hải.
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Hải Anh - Thư ký Tòa Phúc thẩm Toà án
nhân dân tối cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong, Kiểm
sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 358/2025/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của các bị hại đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 115/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh); dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông (Không rõ họ tên B) và con bà Nguyễn Thị T; có chồng là Lê Văn S, có 02 con (con lớn sinh năm 2005; con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay; có mặt .
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H do Toà án chỉ định: Luật sư Ngọc Thị V - Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số nhà I Q, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là số nhà I Q, phường B, tỉnh Bắc Ninh); có mặt.
Bị hại có kháng cáo:
- Bà Vũ Thị O, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
- Ông Nguyễn Công B1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
- Bà Trương Thị P, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), có mặt.
- Bà Phạm Thị D, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), vắng mặt.
- Ông Lê Quang M, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), vắng mặt.
- Bà Lê Thị S1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn S2 (chồng bị cáo H), sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh), vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ngoài ra vụ án còn có các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không triệu tập đến phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Để có tiền, H đã đi vay mượn của hàng xóm, láng giềng và người thân trong gia đình để chi tiêu cá nhân, cho người khác vay lại để hưởng chênh lệch lãi suất. Do vay của nhiều người, thời gian vay kéo dài, lại phải trả lãi và một số người không trả lại tiền đã được H cho vay lại nên đến đầu năm 2022 H còn nợ của nhiều người số tiền khoảng 03 tỷ đồng và đã không còn khả năng trả nợ. Biết rõ tình trạng tài chính không còn khả năng trả nợ, nhưng để người khác không biết và tin tưởng cho vay tiền, H đã đưa ra các thông tin gian dối về mục đích vay tiền rồi dùng tiền vay được của người cho vay để trả lãi cho chính họ và để trả những khoản nợ đã vay trước đó.
Từ năm 2023, H đã đưa ra thông tin gian dối về việc đang chung tiền buôn bán đất với chị Đào Thị Bích H1 ở cùng thôn và có quan hệ họ hàng với H, làm cho nhiều người tin tưởng tiếp tục cho H vay tiền, chuyển tiền cho H để góp vốn đầu tư mua, bán đất hưởng lợi nhuận (thực tế không có việc H chung tiền buôn bán đất với chị H1). Sau khi nhận được tiền của bị hại, H đã chuyển trả một phần lợi nhuận và tiền gốc cho người cho vay, chuyển tiền lợi nhuận cho người đã gửi chung tiền mua đất với H để họ tiếp tục tin tưởng chuyển tiền tiếp cho H; số tiền còn lại H dùng để trả nợ xoay vòng và chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 06/11/2023, H tuyên bố vỡ nợ, lúc này các bị hại mới nhận ra bị H lừa dối trong suốt thời gian dài mà không biết. Bằng các thủ đoạn trên, trong khoảng thời gian từ đầu năm 2022 đến tháng 11/2023, Nguyễn Thị H đã chiếm đoạt tổng số tiền 18.206.900.000 đồng của 11 người bị hại, cụ thể như sau:
1. Chiếm đoạt của chị Thân Thị L, sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền
13.511.900.000 đồng.
Chị L và Nguyễn Thị H là người cùng thôn và có quan hệ họ hàng với nhau (mẹ H là chị ruột của bố chồng chị L) nên H thường xuyên đến nhà chị L chơi. Từ năm 2022, H nhiều lần vay tiền của chị L để đảo sổ ngân hàng, cho người khác vay lại; chị L cũng có vay tiền của H, hai bên cứ vay đi rồi trả lại cho nhau bằng cách tính đối trừ tiền. Đến khoảng tháng 4/2023, H nói dối chị L là H đang chung tiền mua, bán đất cùng chị Đào Thị Bích H1 rồi rủ chị L góp chung tiền mua đất, lợi nhuận sẽ chia nhau; H bảo chị L việc giao dịch mua, bán đất này cần giữ bí mật, khi có lợi nhuận sẽ chuyển cho chị L. Chị L tin tưởng nên chuyển tiền cho H để góp đầu tư mua đất như H giới thiệu; ngoài ra, H còn nói dối chị L là cần tiền để nhờ H1 đem đi mua đất tại khu đô thị P, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để chị L tin tưởng cho vay tiền, sau đó H chiếm đoạt. Sau khi nhận được tiền của chị L, H đã không chuyển tiền cho chị H1 để nhờ đi mua đất mà sử dụng tiền của chị L để trả lãi, chi lợi nhuận cho chị L, chi tiêu cá nhân, trả nợ hết.
Chị L sử dụng các tài khoản ngân hàng gồm: Số H mở tại Ngân hàng A; số [...] mở tại Ngân hàng V1; số 7995588999; số [...] mở tại Ngân hàng V2 đều mang tên chị L và tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Văn B2 mở tại Ngân hàng V2 để giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản số 2505205568066 của H mở tại Ngân hàng A1. Ngoài ra, giữa chị L và H còn giao dịch bằng tiền mặt với nhau.
Chị L và H thường trao đổi và liên lạc với nhau qua mạng xã hội Zalo. Chị L sử dụng tài khoản Zalo mang tên “Lan Huy” nhắn tin trao đổi với H qua tài khoản “Nguyễn Thị H”. Ngoài ra, còn lập tài khoản Zalo chung với một số người khác lấy tên nhóm là “Chị H”. Quá trình trao đổi, H nhắn tin ghi nội dung liên quan đến thông tin lô đất (chỉ có thông tin gồm số tiền gốc vào, ngày vào, ngày bán, số tiền bán, lợi nhuận) ra tờ giấy, rồi chụp ảnh gửi cho chị L qua tin nhắn Zalo. Chị L chốt đồng ý góp tiền mua lô đất nào thì tải ảnh về rồi chèn chữ thể hiện chốt lô đất đó. H gửi nhiều nhất 10 lô đất/ngày, giao dịch xong lô nào thì huỷ giấy tờ đi (đến nay chỉ còn lưu một số thông tin của lô đất trong quyển sổ bìa màu hồng thu giữ khi khám xét); còn chị L ghi vào tờ giấy theo dõi và còn lưu từ tháng 7/2023 (vì không có hợp đồng nên phải nhắn tin cụ thể chốt với nhau qua tin nhắn Zalo). Có lần, H trả tiền lợi nhuận sớm hơn cho chị L theo thoả thuận trước đó, chẳng hạn H gửi cho chị L thông tin vào ngày 17/8/2023 với thông tin: “Vào 1,200 ngày 17/8, ra 30/8, chia 120 triệu”; có nghĩa góp số tiền 1,2 tỷ đồng mua lô đất vào ngày 17/8/2023, bán ra vào ngày 30/8/2023 thì lợi nhuận chị L được chia là 120 triệu đồng. H đưa ra nhiều thông tin tương tự đối với nhiều lô đất khác. Thời gian H đưa ra khi vào tiền mua xong, rồi thông tin bán dao động từ khoảng 07 đến 24 ngày; lợi nhuận ít nhất vài chục triệu đồng, cao nhất là 600 triệu đồng; số tiền giữa các lô đất được đối trừ đuổi với nhau. Thực chất thông tin mua vào, bán ra các lô đất là do H tự nghĩ ra, không có trên thực tế.
Sau khi chị L chuyển tiền, H nói sẽ chuyển cho Đào Thị Bích H1 để cùng
chung mua đất. Ban đầu, H thanh toán đầy đủ tiền gốc, lợi nhuận và nói do H1 đưa cho. Sau khi thanh toán xong thì H tiếp tục đưa ra thông tin về những lô đất khác (đều không có thông tin cụ thể, cũng tương tự như thông tin đưa ra trước đó) và bảo thu tiền lợi nhuận, còn tiền gốc thì để xoay vòng đầu tư mua lô đất khác và sẽ tính đối trừ với nhau. Khi đã tạo được lòng tin, về sau H tiếp tục đưa ra lô đất có giá trị lớn hơn, thời gian mua, bán ngắn hạn hơn và tiền lợi nhuận cao hơn để chị L tin tưởng đầu tư chuyển tiền cho H, sau đó bị H chiếm đoạt. Đến khoảng tháng 8/2023, chị L yêu cầu H chốt lại những lô đất mà chị L đã góp tiền mua chưa được H trả lại tiền, sau đó hai bên chốt lại và xác định còn 15 lô đất mà chị L đã đầu tư tiền đưa cho H để mua với tổng số tiền trên 22.000.000.000 đồng. Tháng 9/2023, H tiếp tục cung cấp cho chị L thông tin nhiều lô đất khác không có thật để chị L tiếp tục vào tiền đầu tư. Do thấy H trả tiền lợi nhuận chậm và không đầy đủ, chị L hỏi thì H nói dối là đã đưa tiền cho chị H1 để vào tiền đầu tư dự án ở tỉnh Bắc Ninh và dự án ở huyện H, tỉnh Bắc Giang chưa bán được nên chưa có tiền trả cho chị L. Lúc này chị L muốn rút hết tiền, đồng thời muốn gặp chị H1 để hỏi chuyện, H hẹn sang tháng 11/2023 sẽ cho chị L gặp H1. Đến ngày 06/11/2023, H tuyên bố vỡ nợ không có tiền để trả cho ai.
Căn cứ vào sao kê giao dịch trong các tài khoản Ngân hàng, lời khai của chị L và lời khai của Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra xác định, chị L sử dụng các tài khoản Ngân hàng trên để chuyển cho H với tổng số tiền là 155.581.900.000 đồng; H chuyển khoản trả lại cho chị L tổng số tiền là 139.380.000.000 đồng, trả tiền mặt 1.850.000.000 đồng và nhờ Nguyễn Ngọc Trung C trả 840.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà H đã chiếm đoạt của chị L là 13.511.900.000 đồng đến nay chưa trả, trong đó có hơn 05 tỷ đồng tiền mà chị L cho H vay; còn lại là tiền chung mua đất (số tiền lợi nhuận mà H đã trả, phải trả cho chị L là khoảng 15 tỷ đồng nhưng thực tế đây chính là tiền gốc mà chị L đã chuyển cho H, H dùng tiền này chuyển trả cho chị L để tạo lòng tin và đã được đối trừ, đây được xác định là phương thức, thủ đoạn để H chiếm đoạt tiền của chị L).
2. Chiếm đoạt của anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1991, trú tại số nhà B, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên số tiền 1.400.000.000 đồng.
Anh T1 là em họ của Nguyễn Thị H (mẹ anh T1 là em ruột mẹ H). Từ khoảng cuối năm 2022, H nhiều lần hỏi vay tiền của anh T1 để đáo hạn ngân hàng, mua đất, quá trình vay mượn H trả lãi và gốc đầy đủ cho anh T1. Đến năm 2023, là thời điểm H đã lâm vào tình trạng nợ nần, mất khả năng trả nợ. H đã đưa ra thông tin gian dối với anh T1 (tương tự thủ đoạn đã thực hiện với chị L) là H đang giao dịch mua bán đất với người khác có lợi nhuận cao, rồi rủ anh T1 cùng góp tiền mua và nói với anh T1 cần tiền để đáo hạn ngân hàng cho người khác để anh T1 cho H vay tiền. Tin tưởng là thật nên anh T1 đã chuyển tiền cho H mua đất và cho H vay sau đó H chiếm đoạt.
Với thủ đoạn tương tự như thực hiện với chị L, H ghi thông tin về lô đất ra giấy rồi chụp ảnh gửi qua tin nhắn Zalo cho anh T1; số tiền lợi nhuận H tự
nghĩ ra để cân đối với số tiền gốc anh T1 bỏ ra mua; anh T1 vào lô đất nào thì nhắn tin báo lại cho H rồi chuyển tiền cho H. Sau một số lần góp tiền mua đất, anh T1 được H trả tiền lợi nhuận và tiền gốc đầy đủ nên rất tin tưởng. Trước khi tuyên bố vỡ nợ vài ngày, ngày 02/11/2023, H nói với anh T1 có lô đất có trị giá là 1,8 tỷ đồng, anh T1 góp tổng số tiền là 1.400.000.000 đồng, còn lại H góp, hẹn đến ngày 10/11/2023 sẽ bán, trả tiền gốc và lợi nhuận cho anh T1. Do H còn đang nợ anh T1 số tiền 555.750.000 đồng (gồm tiền vay và tiền chung mua lô đất sau khi đã đối trừ trong tài khoản Ngân hàng), H và anh T1 thống nhất, anh T1 sẽ chuyển thêm số tiền 840.000.000 đồng cho H (do tài khoản bị lỗi nên H bảo Trung chuyển vào tài khoản của chị Thân Thị L số tiền 840.000.000 đồng mà anh T1 góp để H trả cho chị L) và anh Trung chuyển thêm số tiền 4.250.000 đồng cho H để làm tròn thành số tiền anh T1 góp là 1.400.000.000 đồng. Sau đó, H đã không trả lại được tiền cho anh T1, vì thực tế không có việc đầu tư mua bán đất nào như H nói.
Quá trình giao dịch chuyển tiền, anh T1 sử dụng tài khoản số 0372133666 mở tại Ngân hàng M3 chi nhánh T7 và tài khoản số 19036233888015 mở tại Ngân hàng T8 chi nhánh T7 để chuyển, nhận tiền từ tài khoản số 2505205568066 của Nguyễn Thị H mở tại Ngân hàng A1 chi nhánh H2. Căn cứ tài liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B) xác định H đã chiếm đoạt của anh T1 số tiền là 1.400.000.000 đồng.
3. Chiếm đoạt của ông Nguyễn Công B1, sinh năm 1965, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 500.000.000 đồng.
Nguyễn Thị H và ông B1 là người cùng thôn nên quen biết nhau. Mặc dù bản thân đang nợ rất nhiều tiền và đã mất khả năng trả nợ nhưng để che giấu hoàn cảnh kinh tế của mình, H đã lợi dụng mối quan hệ thân quen với ông B1 để hỏi vay tiền của ông B1. Ngày 11/9/2023 (Âm lịch), H nói dối ông B1 là cần tiền để đầu tư mua đất, cho người khác vay lại để ông B1 cho H vay số tiền 500.000.000 đồng, thoả thuận lãi xuất 2%/tháng, thời hạn vay 01 năm, ông B1 tin tưởng cho H vay, không yêu cầu thế chấp tài sản. Sau đó, ông B1 ghi giấy biên nhận vay đưa cho H ký xác nhận vào dưới mục người vay rồi đưa tiền cho tiền cho H. Sau khi nhận tiền, H sử dụng trả nợ, chi tiêu cá nhân hết và không trả cho ông B1.
4. Chiếm đoạt của vợ, chồng anh Lương Hồng S3, sinh năm 1996; chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên số tiền 1.172.000.000 đồng:
Nguyễn Thị H và vợ chồng anh S3, chị T2 có họ hàng với nhau (mẹ chị T2 là chị ruột chồng H). Để có tiền chi tiêu, trả nợ các khoản nợ mà bản thân đã mất khả năng thanh toán, Nguyễn Thị H đã lợi dụng mối quan hệ trên, rồi nói dối vợ chồng anh S3, chị T2 là H đang buôn bán đất chung với người khác, đã giao dịch được nhiều lô đất với lợi nhuận cao. Để chị T2 tin tưởng hơn, H đưa chị T2 đi xem một số lô đất của người khác rồi nói sẽ mua những lô này (H
không cho xem giấy tờ đất) để vợ, chồng chị T2 tin tưởng cho H vay tiền. H nói, khi nào cần tiền thì báo trước vài ngày để H thu xếp trả. Vợ chồng anh S3 tin tưởng đã nhiều lần chuyển tiền qua tài khoản và đưa tiền mặt cho H vay. Sau khi nhận tiền, H đã sử dụng chi tiêu cá nhân và trả nợ hết.
Căn cứ vào các tài liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B) xác định trong khoảng thời gian từ ngày 26/10/2023 đến ngày 06/11/2023, Nguyễn Thị H đã chiếm đoạt của vợ chồng anh S3, chị T2 tổng số tiền 1.172.000.000 đồng, đến nay H đã trả được 436.200.000 đồng, hiện còn chiếm đoạt số tiền là 735.800.000 đồng.
5. Chiếm đoạt của bà Phạm Thị D, sinh năm 1962, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang ( nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 100.000.000 đồng.
Bà D và H là người cùng thôn nên có quen biết nhau. Đến đầu năm 2022 là thời điểm H đang nợ rất nhiều tiền của nhiều người khác và đã mất khả năng trả nợ. Để che giấu việc này, H tiếp tục dùng thủ đoạn đi mượn tiền của người cho vay sau trả cho người cho H vay tiền trước, trong đó có bà D. Ngày 17/7/2022, H hỏi vay bà Duyên số tiền 100.000.000 đồng. H nói với bà D vay tiền để cho người khác vay lại và đầu tư vào xưởng mộc, lãi xuất hai bên thoả thuận miệng là 01 triệu đồng/100triệu đồng/tháng, không phải thế chấp tài sản. Bà D tin tưởng nên đã cho H vay. Tuy nhiên, sau đó H đã không trả lại tiền cho bà D.
Ngoài ra, trước ngày 20/12/2020, H còn nhiều lần vay của bà D với tổng số tiền 100.000.000 đồng đến nay chưa trả, các mã vay số tiền này được gộp chung vào gấy tờ vay tiền đề ngày 20/12/2020. Do việc vay, mượn diễn ra vào thời điểm H vẫn có khả năng trả nợ cho bà D nên Cơ quan điều tra xác định H không chiếm đoạt số tiền này của bà D là có căn cứ. Do vậy, H chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền là 100.000.000 đồng đã chiếm đoạt của D ngày 17/7/2022.
6. Chiếm đoạt của bà Trương Thị P, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 323.000.000 đồng.
Bà P và Nguyễn Thị H là người cùng thôn nên có quen biết nhau. Quá trình quen biết, H đã nhiều lần vay của bà P để cho người khác vay lại, lãi xuất thoả thuận trả 01 triệu đồng/100 triệu đồng/tháng. Tính đến trước thời điểm H lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ thì H còn đang nợ bà P tổng số tiền 710.000.000 đồng của 02 mã vay (ngày 10/4/2020 vay 460 triệu đồng; ngày 10/01/2021 vay 250 triệu đồng).
Đến năm 2022, là thời điểm H đang nợ rất nhiều tiền của nhiều người và đã mất khả năng trả nợ. Để có được tiền chi tiêu, trả nợ, H tiếp tục đi vay tiền của bà P. Khi vay, H không nói cho bà P biết việc bản thân đang nợ nhiều tiền và đã mất khả năng trả nợ nhằm mục đích để bà P tin tưởng cho H vay tiền. Cụ thể, H đã được bà P cho vay 02 lần rồi chiếm đoạt số tiền 323.000.000 đồng
(ngày 17/6/2022 (âm lịch) là 180.000.000 đồng và ngày 03/7/2022 (âm lịch) là 143.000.000 đồng). Do vậy, H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm đoạt số tiền 323.000.000 đồng của bà P.
Đối với số tiền 710.000.000 đồng H vay, mượn của bà P diễn ra vào thời điểm H vẫn có khả năng trả nợ, nên Cơ quan điều tra xác định H không chiếm đoạt số tiền này của bà P là có căn cứ.
7. Chiếm đoạt của bà Vũ Thị O, sinh năm 1968, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 170.000.000 đồng.
Bà O và H là người cùng thôn nên có quen biết nhau từ trước. Quá trình quen biết, H đã nhiều lần vay của bà O để cho người khác vay lại, lãi xuất thoả thuận là 1,5%/tháng. Tính đến trước thời điểm H mất khả năng trả nợ đối với các khoản nợ đã vay, thì H còn đang nợ của bà O tổng số tiền 180.000.000 đồng của nhiều mã vay khác nhau. Sau khi đã lâm vào tình trạng vỡ nợ, H đã không nói cho bà O biết mà tiếp tục hỏi vay tiền bà O để đem đi trả nợ cho người khác. Ngày 02/11/2022 (âm lịch), H hỏi vay bà O số tiền 170.000.000 đồng, do tin tưởng H vẫn có khả năng trả nợ, bà O không yêu cầu H phải thế chấp tài sản và đồng ý cho vay. Sau đó, hai bên thống nhất chốt số tiền vay này với công nợ cũ, rồi ghi thành giấy vay tiền với số tiền 350.000.000 đồng.
Quá trình điều tra,Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B) xác định số tiền 180.000.000 đồng, bị cáo H vay bà O trước thời điểm lâm vào tình trạng vỡ nợ nên xác định bị cáo không chiếm đoạt và không phải chịu trách nhiệm hình sự số tiền này. Đối với mã vay 170.000.000 đồng ngày 02/11/2022, H đã dùng thủ gian dối để chiếm đoạt của bà O khi H đã lâm vào trình trạng vỡ nợ nên phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền chiếm đoạt này. Đến nay H đã trả được cho bà O 50.000.000 đồng trong số tiền 170.000.000 triệu đồng.
8. Chiếm đoạt của vợ, chồng ông Lê Quang M, sinh năm 1964; bà Lê Thị S1, sinh năm 1965, trú tại thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang ( nay là thôn Đ, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 630.000.000 đồng.
Ông M, bà S1 là người cùng thôn với bị cáo Nguyễn Thị H. Quá trình sinh sống, H đã nhiều lần hỏi vay vợ, chồng ông M tiền, khi vay H nói để cho người khác vay lại, để mua thửa đất, lãi xuất thoả thuận miệng 1,5%/tháng, khi vay đều viết giấy biên nhận vay, không yêu cầu thế chấp tài sản. Đến trước thời điểm H lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ thì H còn đang nợ của vợ chồng ông M, bà S1 tổng số tiền 170.000.000 đồng của nhiều mã vay khác nhau.
Cũng với thủ đoạn tương tự như đối với người khác, đến năm 2022 khi H đang nợ tiền của nhiều người và đã mất khả năng thanh toán, H không nói cho vợ chồng ông M biết tình trạng kinh tế của mình mà tiếp tục nói dối vợ chồng ông M là cần tiền để đầu tư mua đất và cho người khác vay để vợ chồng ông M tin tưởng chuyển tiền cho H vay sau đó bị H chiếm đoạt với tổng số tiền 630.000.000 đồng, cụ thể như sau:
Ngày 19/5/2022 (âm lịch), H vay 400 triệu đồng; ngày 26/6/2022 (âm lịch), H vay 30 triệu đồng; ngày 18/7/2022 (âm lịch), H vay 40 triệu đồng; ngày 05/9/2022 (âm lịch), H vay 100 triệu đồng; ngày 10/9/2023 (âm lịch), H vay 60 triệu đồng.
Đối với số tiền 170.000.000 đồng còn đang nợ của vợ chồng ông M, bà S1 thì H vay vào thời điểm H vẫn có khả năng trả nợ nên xác định là quan hệ pháp luật dân sự.
9. Chiếm đoạt của anh Chu Văn T3, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn N, xã H, tỉnh Bắc Ninh) số tiền 400.000.000 đồng.
Anh T3 và H có mối quan hệ quen biết xã hội. Từ năm 2023, là thời điểm H đã lâm vào tình trạng nợ nhiều người và không còn khả năng chi trả. Lợi dụng việc quen biết với anh T3, H đã nhiều lần hỏi vay tiền của anh T3. Do là chỗ quen biết và không biết H đang rơi vào tình trạng mất khả năng trả nợ nên anh T3 đồng ý cho vay tiền. Hai bên giao dịch qua chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt. H khai vay của anh T3 với lãi xuất từ 4.000 đồng đến 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thời hạn vay từ 07 ngày đến 20 ngày, cứ vay rồi trả (nhưng không đưa ra tài liệu để chứng minh, còn anh T3 không thừa nhận cho H vay lãi). Đến khi H tuyên bố vỡ nợ thì còn nợ anh T3 02 mã vay với tổng số tiền là 400.000.000 đồng (Mã ngày 31/10/2023, Η vay 300.000.000 đồng, anh T3 yêu cầu H ký vào Hợp đồng cho vay tiền đề ngày 01/11/2023, thời hạn vay đến ngày 01/11/2024 và mã ngày 01/11/2023, H vay 100.000.000 đồng).
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Kết quả giám định:
Tại Kết luận giám định số 511/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận: “Trích xuất và khôi phục được 55 dữ liệu thông tin tài khoản, 6487 dữ liệu thông tin danh bạ, 2382 dữ liệu nhật ký cuộc gọi, 26442 dữ liệu tin nhắn, 88781 dữ liệu hình ảnh, 783 dữ liệu file video, 269 dữ liệu file âm thanh và 5129 tệp tài liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z5G, màu bạc, số Imeil 869447059519697, số Imei2 869447059519689 (điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H); chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du lieu”, tổng dung lượng 72,8 GB, được lưu trữ trong 01 ô cứng SSD nhãn hiệu Veseky, màu đen. (bút lục 161).
Tại Kết luận giám định số 931/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) và Kết luận giám định số 3365/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của V3 Bộ C1, kết luận về các File ghi âm do chị Thân Thị L và anh Quang Ngọc T4 giao nộp: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung âm thanh, hình ảnh trong các mẫu cần giám định; trong các file có tiếng nói của bị cáo Nguyễn Thị H thừa nhận với chị L, anh T4 về việc nhận tiền nhưng không phải đầu tư mua đất; nội dung âm thanh trong
các file đã được dịch ra thành văn bản (bút lục 164-181; 194-215).
Tại Kết luận giám định số 1595/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B), kết luận: Trích xuất và khôi phục được 7,68 GB dữ liệu nhật ký cuộc gọi, tin nhắn SMS, lịch sử truy cập Web, tin nhắn từ ứng dụng: Zalo, Facebook, M1; dữ liệu hình ảnh, âm thanh, file video và tệp văn bản lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8T, màu đen, kiểu máy: CPH2481, số Imei: 863126062357677;số Imeil2: 863126062357669 (điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H); chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du lieu”, tổng dung lượng 7,68 GB, được lưu trữ trong 01 thiết bị lưu trữ USB (bút lục 220).
Tại Kết luận giám định số 1597/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận về chữ viết, chữ ký trên các tài liệu đã thu giữ tại nhà của bị cáo, của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giao nộp có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đều có chữ viết, chữ ký của bị cáo Nguyễn Thị H (bút lục 264-265).
Tại Kết luận giám định số 1586/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận:
- Trích xuất và khôi phục được 20.4 GB dữ liệu điện tử lưu trữ trên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, đã qua sử dụng, số máy A2161, số Sêri F2LZGKD7N70F; số Imei: 353903102207055, Imeil2: 353903102270301 (điện thoại của anh Nguyễn Ngọc T1).
- Trích xuất và khôi phục được 24.6 GB dữ liệu điện tử lưu trữ trên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A73 5G, màu đen, ốp nhựa màu nâu, đã qua sử dụng, số kiểu thiết bị SM-A736B/DS, số Sêri R5CT62HXSQZ; số Imei: 352828294461379, Imei2: 354462614461378 (điện thoại của chị Đào Thị Bích H1).
- Trích xuất và khôi phục được 38.4 GB dữ liệu điện tử lưu trữ trên 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A94, màu đen, ốp nhựa màu đen, đã qua sử dụng, số kiểu máy CPH2203, số Sêri JB6HDABAEAIBA6Y9; số Imeil: 863271055762135, Imeil2: 863271055762127 (điện thoại của Nguyễn Văn T5); chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du lieu”, tổng dung lượng 83.5 GB, được lưu trữ trong 01 ổ cứng HDD (bút lục 269-270).
Tại Kết luận giám định số 1987/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận: Trích xuất và khôi phục được 69.4 GB dữ liệu điện tử lưu trữ trên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Z Flip5, màu trắng – đen, đã qua sử dụng, số kiểu thiết bị SM-F731B, số Sê ri: R5CW80997DV; số Imeil: 350290891575170, số I: 350691481575175 (điện thoại của chị Thân Thị L); chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên: “Du lieu”, tổng dung lượng 69.4 GB, được lưu trữ trong 01 ổ cứng HDD nhãn hiệu Seagate, màu trắng, số S: S2TDJ90C358312 (bút lục 274).
Tại Kết luận giám định số 2187/KL-KTHS ngày 15/10/2024 của Phòng K
Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận: Trích xuất và khôi phục được 27.4GB dữ liệu điện tử lưu trữ trên 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A5, màu xanh, đã qua sử dụng, số kiểu thiết bị SM-A055F/DS, số Sê ri: R9WW90NBL2Y, số Imei: 354035902163730, số Imei2: 354978662163731 (điện thoại của Phan Đình Đ); chi tiết dữ liệu thể hiện trong thư mục có tên “Du Lieu”, tổng dung lượng 27.4GB được lưu trữ trong 01 thiết bị USB nhãn hiệu Kingston (bút lục 279).
Tại Kết luận giám định số 2056/KL-KTHS ngày 25/9/2024 và Kết luận giám định số 215/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B (nay là Phòng K Công an tỉnh B) kết luận về chữ viết, chữ ký trên các tài liệu do các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giao nộp đều có chữ viết, chữ ký của bị cáo Nguyễn Thị H dưới mục người vay nhận tiền (bút lục 323; 328).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, phù hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS- P2 ngày 30/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh) đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 20 ( Hai mươi ) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/10/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại số tiền 17.720.700.000 đồng ( Mười bảy tỷ bảy trăm hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng). Cụ thể:
- Buộc bị cáo phải trả cho chị Thân Thị L số tiền 13.511.900.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 1.400.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho ông Nguyễn Công B1 số tiền 500.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho vợ chồng anh Lương Hồng S3 và chị Nguyễn Thị T2 số tiền 735.800.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Phạm Thị Duyên S4 tiền 100.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Trương Thị P số tiền 323.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Vũ Thị O số tiền 120.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho vợ chồng anh Lê Quang M, chị Lê Thị S1 số tiền 630.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho anh Chu Văn T3 số tiền 400.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm do chậm thi hành án, án phí, xử lý vật chứng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/8/2025, bị hại là bà Vũ Thị O có đơn kháng cáo không đồng ý xác định khoản tiền 180 triệu giải quyết bằng vụ kiện dân sự và đề nghị làm rõ mục đích sử dụng số tiền chiếm đoạt của bị cáo.
Ngày 29/8/2025, các bị hại là ông Nguyễn Công B1, bà Trương Thị P, bà Phạm Thị D, ông Lê Văn M2 và bà Lê Thị S1 có đơn kháng cáo yêu cầu làm rõ số tiền bị cáo chiếm đoạt sử dụng vào mục đích gì và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nghĩa vụ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ngày 13/9/2025, bà Trương Thị P có đơn kháng cáo yêu cầu làm rõ số tiền bị cáo chiếm đoạt sử dụng vào mục đích gì và đề nghị xem xét nghĩa vụ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc ông Lê Văn S có trách nhiệm trả lại số tiền vợ chồng H, S đã ký vay với tổng số tiền là 1.123.000.000 đồng (trong đó số tiền vay có giấy tờ là 1.033.000.000 đồng và 90.000.000 đồng cho vay nóng không viết giấy tờ).
Ngày 16/9/2025, ông Nguyễn Công B1 có đơn kháng cáo yêu cầu làm rõ số tiền bị cáo chiếm đoạt sử dụng vào mục đích gì và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nghĩa vụ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại Quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn số 32A/2025/HSPT-QĐ ngày 28/10/2025, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng cáo quá hạn của ông Nguyễn Công B1 và bà Trương Thị P.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo, ý kiến quan điểm trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm yêu cầu bị cáo giải trình cho ai vay, người nào vay không trả được, bị cáo trả lãi cho ai để làm rõ việc sử dụng số tiền chiếm đoạt. Đồng thời, yêu cầu anh S (chồng bị cáo) phải có trách nhiệm lấy tài sản của gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Ngoài ra, bà O còn đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H.
Bị cáo Nguyễn Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và trình bày chồng bị cáo không biết và không liên quan đến việc vay tiền của bị cáo. Giấy biên nhận có chữ ký của chồng bị cáo là do bị cáo mang về nhà và tự ký; do có một số người vay tiền của bị cáo không trả nên bị cáo mất khả năng thanh toán, lấy tiền của người vay sau trả cho người vay trước theo hình thức quay vòng.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, lời khai của bị cáo và các bị hại tại phiên tòa cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã kết luận: Tòa án cấp
sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bà Vũ Thị O đề nghị xác định số tiền chiếm đoạt là 300 triệu đồng, tăng hình phạt đối với bị cáo H và buộc anh S (chồng bị cáo H) phải có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền bị cáo H chiếm đoạt và các bị hại khác cũng kháng cáo liên quan đến số tiền chiếm đoạt thấy:
Bà O cho H vay 180 triệu đồng trước thời điểm H mất khả năng thanh toán, H không có hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền này nên hành vi này của H không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà là thỏa thuận dân sự. Đối với số tiền 170 triệu đồng H đưa ra thông tin gian dối khi đã mất khả năng thanh toán nên cơ quan điều tra xác định H chiếm đoạt 170 triệu đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt H mức án 20 năm tù là có phần nghiêm khắc. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, không có căn cứ xác định anh S đồng phạm với H và được hưởng lợi từ hành vi phạm tội của H. Tại phiên tòa sơ thẩm anh S cũng có lời khai thể hiện không biết H vay tiền và không ký bất cứ giấy tờ gì nên Tòa án cấp sơ thẩm không buộc anh S có trách nhiệm trả nợ cùng H là có căn cứ. Đối với kháng cáo của các bị hại đề nghị xem xét một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy cơ quan điều tra đã xác minh đầy đủ nhưng không có căn cứ xác định những người này liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa bị cáo H đã giải trình việc sử dụng tiền chiếm đoạt của các bị hại phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H mức án 20 năm tù và buộc bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt cho các bị hại là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội. Tại phiên tòa bị cáo H khai vay của người sau trả cho người trước, không nhớ được trả cho ai cũng như số tiền trả. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo H bồi thường thiệt hại cho các bị hại số tiền chiếm đoạt là đúng, đối với số tiền được xác định là giao dịch dân sự thì các bị hại có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Mức án 20 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là nghiêm khắc so với các vụ án cùng loại. Các bị hại không có chứng cứ chứng minh anh S cùng ký giấy vay tiền, đồng phạm với bị cáo H. Bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt, không có bố và không có anh em ruột nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị hại, xem xét nhân thân để cho bị cáo H được hưởng mức án phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố xét xử kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm,
Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền chi tiêu cá nhân và trả các khoản nợ đã mất khả năng thanh toán, Nguyễn Thị H đã lợi dụng mối quan hệ thân thiết với hàng xóm, họ hàng của mình để đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật về việc H cần tiền để đầu tư mua, bán đất, cho người khác vay lại và nói dối đang đầu tư chung tiền mua đất với người khác với lợi nhuận cao để nhiều người bị hại tin tưởng giao tiền cho H vay, giao tiền cho H để góp vốn đầu tư mua đất chung với H để hưởng lợi nhuận sau đó bị H chiếm đoạt. Bằng thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ năm 2022 đến tháng 11/2023, Nguyễn Thị H chiếm đoạt của 11 người bị hại trên địa bàn huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là địa bàn thuộc tỉnh Bắc Ninh) và tỉnh Thái Nguyên với tổng số tiền 18.206.900.000 đồng (Mười tám tỷ hai trăm linh sáu triệu chín trăm nghìn đồng). H đã khắc phục được 486.200.000 đồng, số tiền còn chiếm đoạt là 17.720.700.000 đồng. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.1] Xét kháng cáo của bị hại Vũ Thị O thấy: Quá trình điều tra, xét xử bà O có lời khai thể hiện năm 2018 bà O cho chị H vay 55 triệu đồng; từ năm 2020 đến năm 2021 bà O cho chị H vay tổng số tiền 125 triệu đồng và ngày 02/11/2022 bà O cho chị H vay 170 triệu đồng, lãi suất thỏa thuận miệng 1,5%/tháng. Sau đó, bà O yêu cầu chị H ghi chốt công nợ số tiền vay trước đó vào thành 350 triệu đồng. Quá trình vay H trả tiền lãi đầy đủ cho bà O cho đến khi vỡ nợ mới không trả lãi nữa. Bị cáo H khai khoảng năm 2022 thì bị cáo mất khả năng thanh toán. Như vậy, số tiền 180 triệu bà O cho H vay trước thời điểm H mất khả năng thanh toán và thực tế H vẫn trả tiền lãi cho bà O nên cơ quan điều tra xác định số tiền 180 triệu đồng là giao dịch dân sự, không phải tiền H lừa đảo chiếm đoạt của bà O là có căn cứ.
Việc bà O cho rằng giấy biên nhận chốt tổng số tiền còn nợ có chữ ký của anh Lê Văn S (là chồng của H), nhưng bản thân bà O cũng không trực tiếp chứng kiến anh S ký giấy biên nhận mà khai H ký trước rồi mang về cho S ký (BL6396). Bản thân anh S khai không biết và không trao đổi với H liên quan đến việc vay tiền, không cùng H ký bất cứ hợp đồng hay giao dịch nào, phù hợp với kết luận giám định xác định chữ ký tại giấy biên nhận là chữ ký của H viết và ký ra.
Đối với kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo H thấy: Bị cáo H thừa nhận hành vi phạm tội, đã khắc phục được một phần nhỏ số tiền chiếm đoạt trong đó đã bồi thường cho bà O 50 triệu trong tổng số 170 triệu đồng. Mức án
20 năm tù Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo H là phù hợp, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại là bà Vũ Thị O.
[2.2] Xét kháng cáo của các bị hại khác là ông Nguyễn Công B1, bà Trương Thị P, bà Phạm Thị D, ông Lê Văn M2 và bà Lê Thị S1 thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo H thừa nhận lợi dụng mối quan hệ làng xóm, gia đình để vay tiền của nhiều người chi tiêu, trả lãi hàng tháng, cho người khác vay lại để kiếm chênh lệch nhưng họ không trả đất dẫn đến mất khả năng thanh toán với số tiền các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm quy kết bị cáo chiếm đoạt 18.206.900.000 đồng là đúng. Tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H tiếp tục khai nhận số tiền bị cáo chiếm đoạt sử dụng để trả tiền gốc, tiền lãi cho các bị hại bằng hình thức quay vòng vay của người sau trả cho người trước phù hợp với lời khai của các bị hại về việc cho bị cáo vay tiền có thỏa thuận lãi. (BL6825)
Đối với kháng cáo của các bị hại liên quan đến trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy: Căn cứ lời khai của bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như chị Nguyễn Thị T6, Đào Thị Bích H1, Phan Đình Đ và các biên bản đối chất giữa bị cáo với H1, Đ thể hiện những người này cho H vay tiền, có thỏa thuận góp tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất, góp vốn đầu tư chung đất hưởng lợi nhuận với bị cáo H và đều xác nhận đã thanh toán xong, không còn liên quan đến bị cáo H. Những người này đều không biết H đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại và không có sự bàn bạc với H để chiếm đoạt tiền của các bị hại. Cơ quan điều tra đã xác minh đầy đủ nhưng không có căn cứ xác định những người này liên quan đến vụ án. Do đó, không có đủ căn cứ xác định những người này có dấu hiệu đồng phạm để buộc những người này cùng có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại.
Đối với kháng cáo của bà Trương Thị P yêu cầu H trả là 1.123.000.000 đồng trong đó có 1.033.000.000 đồng tiền vay có giấy tờ và 90.000.000 đồng tiền vay không có giấy tờ thấy: Tại Biên bản ghi lời khai ngày 08/7/2024 (BL6399) và 04/12/2024 (BL6391) bà P có lời khai thể hiện trong thời gian từ ngày 10/4/2020 đến ngày 03/7/2022 (AL) bà P cho bị cáo H vay tiền 04 lần với tổng số tiền 1.033.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/100 triệu đồng/tháng có giấy viết tay (mã vay riêng chứ không phải cộng gộp) và trả lãi vào ngày 10 AL hàng tháng cho đến đầu năm 2023 thì H không trả lãi. Đồng thời, bà P thừa nhận tính trong năm 2022 thì H vay của bà số tiền 323.000.000 đồng. Tại các lời khai này và tại phiên tòa phúc thẩm, bà P cũng thừa nhận khi đến vay tiền ngày 10/4/2020 và ngày 17/6/2022 (giấy vay tiền có chữ ký của anh S), H đến vay tiền một mình, sau này bà P yêu cầu S mới ký nhận vào sau đó. Tại Biên bản hỏi cung ngày 15/3/2025 (BL6648) và ngày 19/11/2024 (BL6630) bị cáo H khai nhiều lần vay tiền của bà P để cho người khác vay lại, lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng (trong đó có ngày 10/4/2020 vay 460.000.000 đồng, ngày 10/01/2021 vay 250.000.000 đồng, ngày 17/6/2022 vay 180.000.000 đồng và ngày 03/7/2022 vay 143.000.000 đồng). Đồng thời, bị cáo H cho rằng các giấy trên là
viết gộp của những mã vay trước đó, còn gộp mã nào thì bị cáo không nhớ được do khi viết cộng gộp đã hủy giấy tờ vay trước đó. Anh S khai không biết H vay tiền của nhiều người trên địa bàn xã, không biết H sử dụng tiền vay vào mục đích gì và không trao đổi với H liên quan đến việc vay tiền, không cùng H ký bất cứ hợp đồng hay giao dịch nào, phù hợp với lời khai của bị cáo về việc anh S đi làm ăn xa nên không biết gì và bị cáo cũng không trao đổi gì với anh S (PTST, 6779). Như vậy, trước thời điểm năm 2022 bị cáo H vay tiền bà P để cho người khác vay cho đến đầu năm 2022 bị cáo không còn khả năng thanh toán nhưng vẫn đưa ra thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định số tiền 323.000.000 đồng bà P cho bị cáo H vay năm 2022 là số tiền bị cáo H chiếm đoạt và có trách nhiệm bồi thường cho bà P số tiền này trong vụ án hình sự, số tiền 700.000.000 đồng còn lại bà P cho bị cáo H vay trước thời điểm 2022, là thời điểm H vẫn có khả năng trả nợ là giao dịch dân sự là có căn cứ. Trường hợp có tranh chấp liên quan đến số tiền 700.000.000 đồng này thì bà P có thể khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Đối với số tiền 90.000.000 đồng bà P cho bị cáo H vay không có giấy biên nhận nên không có cơ sở xem xét.
Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị hại là ông Nguyễn Công B1, bà Trương Thị P, bà Phạm Thị D, ông Lê Văn M2 và bà Lê Thị S1.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của các bị hại Vũ Thị O, ông Nguyễn Công B1, bà Trương Thị P, bà Phạm Thị D, ông Lê Văn M2 và bà Lê Thị S1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2025/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại số tiền 17.720.700.000 đồng ( Mười bảy tỷ bảy trăm hai mươi triệu bảy trăm nghìn đồng), cụ thể:
- Buộc bị cáo phải trả cho chị Thân Thị L số tiền 13.511.900.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 1.400.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho ông Nguyễn Công B1 số tiền 500.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho vợ chồng anh Lương Hồng S3 và chị Nguyễn Thị T2 số tiền 735.800.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Phạm Thị Duyên S4 tiền 100.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Trương Thị P số tiền 323.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho bà Vũ Thị O số tiền 120.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho vợ chồng anh Lê Quang M, chị Lê Thị S1 số tiền 630.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo phải trả cho anh Chu Văn T3 số tiền 400.000.000 đồng.
II. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị hại Vũ Thị O, ông Nguyễn Công B1, bà Trương Thị P, bà Phạm Thị D, ông Lê Văn M2 và bà Lê Thị S1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 544/2025/HS-PT ngày 08/12/2025 của TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 544/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Để có tiền chi tiêu cá nhân và trả các khoản nợ đã mất khả năng thanh toán, Nguyễn Thị Hằng đã lợi dụng mối quan hệ thân thiết với hàng xóm, họ hàng của mình để đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật về việc Hằng cần tiền để đầu tư mua, bán đất, cho người khác vay lại và nói dối đang đầu tư chung tiền mua đất với người khác với lợi nhuận cao để nhiều người bị hại tin tưởng giao tiền cho Hằng vay, giao tiền cho Hằng để góp vốn đầu tư mua đất chung với Hằng để hưởng lợi nhuận sau đó bị Hằng chiếm đoạt. Bằng thủ đoạn nêu trên, trong thời gian từ năm 2022 đến tháng 11/2023, Nguyễn Thị Hằng chiếm đoạt của 11 người bị hại trên địa bàn huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (nay là địa bàn thuộc tỉnh Bắc Ninh) và tỉnh Thái Nguyên với tổng số tiền 18.206.900.000 đồng (Mười tám tỷ hai trăm linh sáu triệu chín trăm nghìn đồng)
