TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HS-ST Ngày: 17-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hồng Vang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Thanh Hương |
| Ông Trần Ngọc Bích |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Hải Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 912/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo Lý Ngọc T, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1984; Nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 70/75/7, C, phường C, thành phố Cần Thơ (70/75/7, C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ cũ); nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; con ông Lý Ngọc H, sinh năm 1962 (sống) và bà Nguyễn Kim T1, sinh năm 1962 (chết); Vợ bị cáo tên Đỗ Thị Ngọc T2, sinh năm 1991 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015). Về nhân thân: Ngày 29 tháng 4 năm 2021 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số: 179/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, quận N, thành phố Cần Thơ; Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 03 tháng 01 năm 2025, Ủy ban nhân dân phường C, thành phố Cần Thơ ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chưa đóng phạt).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15 tháng 6 năm 2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ninh Kiều thuộc trại tham giam số 1 Công an thành phố C.
2. Bị cáo Võ Chí T3 (tên gọi khác: Tâm M), sinh ngày 30 tháng 6 năm 1992; Nơi sinh: Cần Thơ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: H, C, phường C, thành phố Cần Thơ (H, C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ cũ); nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; con ông Võ Văn T4, sinh năm 1968 (sống) và bà Nguyễn Thị Thu T5, sinh năm 1968 (sống). Bị cáo chưa
có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không
Bị cáo bị tạm giữ ngày 14 tháng 6 năm 2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Ninh Kiều thuộc trại tham giam số 1 Công an thành phố C.
Các bị cáo có mặt
2. Những người tham gia tố tụng:
- Bị hại: 1. Huỳnh Gia M1, sinh năm 2003. Vắng mặt
Địa chỉ: A, khu V, phường L, thành phố Cần Thơ.
Nơi ở hiện tại: Số I, M, phường C, thành phố Cần Thơ
2. Trương Nguyễn Khánh H1, sinh năm 2003. Có mặt
Địa chỉ: ấp G, xã Đ, thành phố Cần Thơ
Nơi ở hiện tại: Số I, M, phường C, thành phố Cần Thơ
3. Tạ Ngọc T6, sinh năm 1998. Vắng mặt
Địa chỉ: 2,T, phường C, thành phố Cần Thơ
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1979. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp 7, xã Đại Hải, thành phố Cần Thơ
2. Lý Ngọc Mỹ T7, sinh năm 1982. Có mặt
Địa chỉ: 7, C, phường C, thành phố Cần Thơ
3. Đỗ Thị Ngọc T2, sinh năm 1991. Có mặt
Địa chỉ: 7, C, phường C, thành phố Cần Thơ
Nơi ở hiện tại: Số G, C, phường C, thành phố Cần Thơ
4. Huỳnh Mạnh K, sinh năm 1987. Vắng mặt
Địa chỉ: Số I, M, phường C, thành phố Cần Thơ
5. Nguyễn Hữu G, sinh năm 1984. Vắng mặt
Địa chỉ: E, đường số A, khu N, phường T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 10-6-2025 đến ngày 13-6-2025, Lý Ngọc T và Võ Chí T3 đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại các dãy nhà trọ trên địa bàn thành phố Cần Thơ, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 10-6-2025, Lý Ngọc T gọi điện rủ Võ Chí T3 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T3 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo, biển số 65 L1 -6760 đến rước T3 rồi đi trên các đường thuộc phường C, thành phố Cần Thơ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước nhà trọ địa chỉ số I M, phường C, thành phố Cần Thơ thì T để T3 ở bên ngoài cảnh giới rồi đi đến phòng số 3, là nơi anh Trương Nguyễn Khánh H1 và chị Huỳnh Gia M1 đang ở trọ, T dùng cây xà beng cạy ổ khóa đi vào bên trong phòng lục tìm và lấy 01 ví nữ màu đen, bên trong có 2.000.000 đồng (bằng chữ: Hai triệu đồng), 02 (hai) chiếc nhẫn
bằng kim loại màu trắng và 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu trắng. Sau khi lấy được tài sản thì T cùng T3 tẩu thoát. T chở T3 về nhà tại hẻm H Cách mạng tháng 8 và chia cho T3 số tiền 500.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm nghìn đồng). Số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết còn lại 01 (một) ví nữ màu đen, 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng và 01(một) đôi bông tai bằng kim loại màu trắng T mang về nhà cất giấu, sau khi bị bắt thì T giao nộp lại cho Cơ quan công an.
Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 13-6-2025 T tiếp tục gọi điện cho T3 để rủ T3 đi trộm cắp tài sản thì T3 đồng ý. Trường Đ, biển số 65 L1- 6760 đến chở T3 rồi đi trên các đường thuộc phường C, thành phố Cần Thơ tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà trọ địa chỉ số B, T, phường C, thành phố Cần Thơ thì T vào bên trong dãy nhà trọ, T3 thì ở bên ngoài cảnh giới. T đi đến trước phòng số 4 là nơi chị Tạ Ngọc T6 đang ở trọ, T cạy ổ khóa đi vào bên trong và lấy 01 (một) máy chụp ảnh hiệu Canon màu đen. Sau khi lấy được tài sản thì T cùng T3 tẩu thoát. T đưa cho T3 máy chụp ảnh đem đi cầm được 1.000.000 đồng (bằng chữ: Một triệu đồng) rồi cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi tiếp nhận tin báo của anh Trương Nguyễn Khánh H1 và chị Tạ Ngọc T6, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai của bị hại, đồng thời rà soát và trích xuất dữ liệu từ hệ thống camera. Qua quá trình xác minh, Cơ quan điều tra nhận thấy Lý Ngọc T và Võ Chí T3 có đặc điểm phù hợp với đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đã mời cả hai về trụ sở làm việc thì T và T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Tang vật thu giữ được:
- - 01 (một) đôi bông tai (kim cương) kim loại màu trắng;
- - 01 (một) chiếc nhẫn nữ kim loại màu trắng;
- - 01 (một) chiếc nhẫn nữ kim loại màu trắng (trơn);
- - 01 (một) ví da màu đen nhãn hiệu CLASSLCEMOOEAN;
- - 01 (một) máy ảnh Canon EOS R50 +ống lens;
- - 01 (một) xe mô tô biển số 65 L1 - 6760;
- - 02 (hai) nón bảo hiểm;
- - 02 (hai) áo mưa;
- - 01 (một) hộp nhựa màu đen có chữ Mobile Drill En 101;
- - 01 cây kim loại đã rỉ sét.
Tại kết luận định giá tài sản số: 1111/KL - HĐĐG, ngày 23-6-2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự quận N, thành phố Cần Thơ xác định:
- - 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có hột đá màu trắng, trọng lượng 1,249 chỉ, trọng lượng vàng 0,86 chỉ, tuổi vàng 75% (hột đá là hột thường, không giá trị), trị giá 6.948.000 đồng (Sáu triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
- - 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có đính đá xung quanh, tổng trọng lượng 0,91 chỉ, trọng lượng vàng 0,5 chỉ, tuổi vàng 95% (hột đá trắng là hột thường, không có giá trị) trị giá 4.040.000 đồng (Bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - 01 (một) máy ảnh Canon EOS R50 + ống lens (RF-S18-45 mm) f/4, 5-6,3 IS STM) màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG, ngày 09-9-2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận N, thành phố Cần Thơ xác định:
- - 01 (một) đôi bông tai vàng trắng, có tổng trọng lượng 1,086 chỉ, trọng lượng vàng 0,986 chỉ, có đính 02 viên kim cương thiên nhiên, kích thước xấp xỉ 3,5mm, tông màu trắng, dạng tròn giác cúc và 64 (sáu mươi bốn) viên kim cương thiên nhiên, kích thước rất nhỏ, dạng tròn chữ nhật, tông màu trắng. Trị giá 27.967.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)
- - 01 ví da kiểu dáng nữ, màu đen, có dòng chữ “CLASSIC & MODERN” (đã qua sử dụng). Trị giá 20.000 đồng (bằng chữ: Hai mươi nghìn đồng).
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- + Trả cho Huỳnh Gia M1 đã nhận lại xong, gồm: 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có hột đá màu trắng, trọng lượng 1,249 chỉ, trọng lượng vàng 0,86 chỉ, tuổi vàng 75% (hột đá là hột thường, không giá trị); 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có đính đá xung quanh, tổng trọng lượng 0,91 chỉ, trọng lượng vàng 0,5 chỉ, tuổi vàng 95% (hột đá trắng là hột thường); 01 (một) đôi bông tai vàng trắng, có tổng trọng lượng 1,086 chỉ, trọng lượng vàng 0,986 chỉ, có đính 02 viên kim cương thiên nhiên, kích thước xấp xỉ 3,5mm, tông màu trắng, dạng tròn giác cúc và 64 (sáu mươi bốn) viên kim cương thiên nhiên, kích thước rất nhỏ, dạng tròn chữ nhật, tông màu trắng; 01 ví da kiểu dáng nữ, màu đen, có dòng chữ “CLASSIC & MODERN” (đã qua sử dụng).
- + Trả cho Tạ Ngọc T6 đã nhận lại xong, gồm: 01 (một) máy ảnh Canon EOS R50 + ống lens (RF-S18-45 mm) f/4, 5-6,3 IS STM) màu đen, đã qua sử dụng và 01 hộp nhựa màu đen có chữ Mobile Drill En 101.
- + Trả cho Đỗ Thị Ngọc T2 đã nhận xong, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65 L1 - 6760, số máy: 5P11138601; số khung: RLCN591109Y138601, đã qua sử dụng.
Theo lời khai của chị Tạ Ngọc T6, vào ngày 13-6-2025 chị còn bị mất 01 (một) điện thoại di động hiệu S 9 và 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng 18K, tổng trọng lượng 2 chỉ. Tuy nhiên, chị T6 không cung cấp được tài liệu chứng minh về nguồn gốc tài sản và không xác định được số tài sản này có bị mất vào ngày 13-6-2025 hay không; các bị can Lý Ngọc T và Võ Chí T3 không thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đối
với tài sản trên; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C cũng không thu hồi được. Do đó, không có căn cứ để xác định hành vi của Lý Ngọc T và Võ Chí T3 đối với những tài sản mà chị T6 đã khai báo.
Đối với anh Nguyễn Hữu G, sinh năm 1984, địa chỉ: E, đường số A, khu N, phường T, thành phố Cần Thơ đã mua lại máy ảnh Canon EOS R50 + ống lens từ bị can Võ Chí T3. Anh G không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hữu G.
Về trách nhiệm dân sự: Huỳnh Gia M1, Tạ Ngọc T6 đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm. Nguyễn Hữu G không có yêu cầu gì.
Tại Cáo trạng số: 09/CT-VKS, ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo Lý Ngọc T và bị cáo Võ Chí T3 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lý Ngọc T, bị cáo Võ Chí T3 đã khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Lý Ngọc T, bị cáo Võ Chí T3 về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- + Áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Ngọc T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- + Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Chí T3 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.
- Buộc các bị cáo nộp lại 1.000.000 đồng (bằng chữ: Một triệu đồng) tiền thu lợi bất chính (bị cáo Lý Ngọc T nộp 500.000 đồng, bị cáo Võ Chí T3 nộp 500.000 đồng)
- Về xử lý vật chứng:
- + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu Huỳnh Gia M1, Tạ Ngọc T6, Đỗ Thị Ngọc T2.
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 áo mưa (01 màu xanh thường, 01 cánh dơi xanh); 02 nón bảo hiểm (01 thường, 01 lưỡi trai màu đỏ - đen - trắng); 01 cây kim loại rỉ sét
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điềuViện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Lý Ngọc T và bị cáo Võ Chí T3 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Ngày 10 tháng 6 năm 2025, bị cáo Lý Ngọc T cùng với với bị cáo Võ Chí T3 lén lút lấy trộm tài sản của bị hại Huỳnh Gia M1, Trương Nguyễn Khánh H1 có giá trị là 40.975.000 đồng (bằng chữ: Bốn mươi triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Ngày 13 tháng 6 năm 2025, bị cáo Lý Ngọc T cùng với với bị cáo Võ Chí T3 lén lút lấy trộm tài sản của bị hại Tạ Ngọc T6 có giá trị 16.000.000 đồng (bằng chữ: Mười sáu triệu đồng). Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 56.975.000 đồng (bằng chữ: Năm mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi lăm đồng). Hành vi mà các bị cáo thực hiện nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản". Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Cần Thơ đã truy tố bị cáo T, bị cáo T3 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo tốt hơn và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đây là vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, hình thức đồng phạm không có sự cấu kết chặt chẽ. Bị cáo T với vai trò là người thực hành, bị cáo T3 với vai trò người giúp sức và chịu trách nhiệm đối với toàn bộ tài sản mà bị cáo T thực hiện.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lý Ngọc T, bị cáo Võ Chí T3 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo T đã khắc bồi thường, khắc phục hậu quả 2.000.000 đồng (bằng chữ: Hai triệu đồng) cho Huỳnh Gia M1.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lý Ngọc T, bị cáo Võ Chí T3 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần trở lên và mỗi lần trên 2.000.000 đồng (bằng chữ: Hai triệu đồng) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo Lý Ngọc T có nhân thân xấu.
[6].Về trách nhiệm dân sự: Huỳnh Gia M1, Tạ Ngọc T6 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm. Nguyễn Hữu G không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau:
- + Trả cho Huỳnh Gia M1: 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có hột đá màu trắng, trọng lượng 1,249 chỉ, trọng lượng vàng 0,86 chỉ, tuổi vàng 75% (hột đá là hột thường, không giá trị); 01 (một) nhẫn nữ vàng trắng, có đính đá xung quanh, tổng trọng lượng 0,91 chỉ, trọng lượng vàng 0,5 chỉ, tuổi vàng 95% (hột đá trắng là hột thường); 01 (một) đôi bông tai vàng trắng, có tổng trọng lượng 1,086 chỉ, trọng lượng vàng 0,986 chỉ, có đính 02 viên kim cương thiên nhiên, kích thước xấp xỉ 3,5mm, tông màu trắng, dạng tròn giác cúc và 64 (sáu mươi bốn) viên kim cương thiên nhiên, kích thước rất nhỏ, dạng tròn chữ nhật, tông màu trắng; 01 ví da kiểu dáng nữ, màu đen, có dòng chữ “CLASSIC & MODERN” (đã qua sử dụng) theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03-9-2025.
- + Trả cho Tạ Ngọc T6: 01 (một) máy ảnh Canon EOS R50 + ống lens (RF-S18-45 mm) f/4, 5-6,3 IS STM) màu đen, đã qua sử dụng và 01 hộp nhựa màu đen có chữ “Mobile Drill En101” theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03-9-2025.
- + Trả cho Đỗ Thị Ngọc T2: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65 L1 - 6760 số máy: 5P11138601; số khung: RLCN591109Y138601, đã qua sử dụng theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 03-9-2025.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 áo mưa (01 màu xanh thường, 01 cánh dơi xanh); 02 nón bảo hiểm (01 thường, 01 lưỡi trai màu đỏ - đen - trắng); 01 cây kim loại rỉ sét liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ, ngày 28 tháng 10 năm 2025.
- - Lưu hồ sơ đĩa DVD do Tạ Ngọc T6 giao nộp (đã lưu vào hồ sơ vụ án).
[8]. Đối với tài sản Tạ Ngọc T6 khai báo bị mất 01 (một) điện thoại di động hiệu S 9 và 04 (bốn) chiếc nhẫn vàng 18K, tổng trọng lượng 2 chỉ. Tuy nhiên, chị T6 không cung cấp được tài liệu chứng minh về nguồn gốc tài sản và không xác định được số tài sản này có bị mất vào ngày 13-6-2025 hay không, bị cáo Lý Ngọc T và bị cáo Võ Chí T3 không thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đối với tài sản trên, tài sản không thu hồi được. Do đó, chưa đủ cơ sở xác định bị cáo T, bị cáo T3 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.
[9]. Đối với ông Nguyễn Hữu G khi mua lại máy ảnh Canon EOS R50 + ống lens từ bị cáo Võ Chí T3 thì không biết đây là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Hữu G là có cơ sở.
[10]. Bà Lý Ngọc Mỹ T7 đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (bằng chữ: Hai triệu đồng) cho bà Huỳnh Gia M1 thay cho bị cáo Lý Ngọc T. Bà T7 không yêu cầu bị cáo T hoàn trả lại. Đây là sự tự nguyện của bà T7 nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lý Ngọc T và bị cáo Võ Chí T3 phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lý Ngọc T;
Căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Chí T3;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Lý Ngọc T, bị cáo Võ Chí T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] Xử phạt:
- - Bị cáo Lý Ngọc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2025.
- - Bị cáo Võ Chí T3 02 ( hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 14 tháng 6 năm 2025.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 áo mưa (01 màu xanh thường, 01 cánh dơi xanh); 02 nón bảo hiểm (01 thường, 01 lưỡi trai màu đỏ - đen - trắng); 01 cây kim loại rỉ sét. Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Cần Thơ, thành phố Cần Thơ, ngày 28 tháng 10 năm 2025
- Lưu hồ sơ đĩa DVD do Tạ Ngọc T6 giao nộp (đã lưu vào hồ sơ vụ án).
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Lý Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Võ Chí T3 phải nộp 200.000 đồng (bằng chữ Hai trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã ký Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 54/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 54/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Ngọc T
