Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-9-2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Ông Ngô Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 15/7/2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXX-ST ngày 22/8/2025, quyết định hoãn phiên toà số: 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/9/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Quỳnh L, sinh năm 2000; CCCD số: . Địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Võ Đức Q, sinh năm 1996; CCCD số: . Địa chỉ: Tổ G, thôn T, xã H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Võ Thị Quỳnh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Q xây dựng gia đình, có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (cũ), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và kéo dài cho đến nay, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông Q thường xuyên chơi bời, nhậu nhẹt và đánh đập bà, đỉnh điểm vào ngày 18/4/2022 ông Q đánh đập bà đến mức đứt gân tay, rách đầu phải cấp cứu tại bệnh viện Đ1; ngoài ra ông Q còn nhiều lần nhắn tin tán tỉnh qua lại với nhiều người phụ nữ khác. Hiện vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm gì tới nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về quan hệ con chung: Bà xác định giữa bà và ông Q có 01 con chung tên là Võ Đức An Đ, sinh ngày 30/4/2019. Ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có và không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Đức Q vắng mặt và không có ý kiến trình bày gửi Toà án.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: 01 Giấy chứng nhận kết hôn, 01 giấy khai sinh (bản sao), 01 CCCD (bản sao), 01 xác nhận thông tin nơi cư trú, biên bản xác minh tại địa phương của Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Võ Thị Quỳnh L được ly hôn ông Võ Đức Q. Về con chung: Đề nghị căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cho bà L nuôi dưỡng, ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã H, thành phố Đà Nẵng. Do vậy, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

[3] Bà Võ Thị Quỳnh L và ông Võ Đức Q có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng cũ, nay là xã H, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 152 ngày 05/12/2018), hôn nhân tự nguyện. Đây là hôn nhân có đủ các điều kiện do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bà Võ Thị Quỳnh L xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng nên tha thiết xin ly hôn còn ông Võ Đức Q vắng mặt và không có ý kiến trình bày gì gửi Toà án xem xét.

[5] Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Quỳnh L thì thấy: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình sống chung thì giữa vợ chồng bà Võ Thị Quỳnh L và ông Võ Đức Q xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hòa hợp; hiện vợ chồng đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi không còn quan tâm gì đến nhau. Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện “... quá trình chung sống tại địa phương vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông Q đánh đập, bạo lực gia đình với nhau nên không thể chung sống với nhau được...”. Ông Võ Đức Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi, thể hiện ý chí không mong muốn hàn gắn mâu thuẫn và níu kéo hôn nhân. Xét thấy, hôn nhân giữa bà Võ Thị Quỳnh L và ông Võ Đức Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin được ly hôn của Võ Thị Quỳnh L là chính đáng, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho bà Võ Thị Quỳnh L được ly hôn ông Võ Đức Q.

[6] Về con chung: Bà Võ Thị Quỳnh L xác định giữa bà và ông Võ Đức Q có 01 con chung tên là Võ Đức An Đ, sinh ngày 30/4/2019. Ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung còn ông Q vắng mặt và không có ý kiến nguyện vọng gì về con chung. Xét thấy, con chung còn nhỏ và hiện do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung, đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung. Ông Q không phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu. Sau khi ly hôn, các đương sự vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Võ Thị Quỳnh L đối với ông Võ Đức Q.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Quỳnh L ly hôn ông Võ Đức Q.
  2. Về con chung: Giao con chung tên là Võ Đức An Đ, sinh ngày 30/4/2019 cho bà Võ Thị Quỳnh L trực tiếp nuôi dưỡng; ông Võ Đức Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Khi vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
  2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Võ Thị Quỳnh L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 000540 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Bà Võ Thị Quỳnh L đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Phòng THADS khu vực 4;
  • - UBND xã H (Số ĐKKH: 152
  • ngày 05/12/2018 tại UBND xã H cũ);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà L ly hôn ông Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger