TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST Ngày 24/11/2025 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng và bà Vũ Thị Hoà
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai, mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Thế N, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Thôn H, xã B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Đoàn Thùy D, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2025, bản tự khai anh Lê Thế N trình bày nội dung vụ án như sau:
Anh Lê Thế N và chị Đoàn Thùy D kết hôn vào ngày 12/11/2024 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai (Nay là xã T, tỉnh Lào Cai), trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có được tìm hiểu nhau. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống khiến cho cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa vợ chồng đã được gia đình và bạn bè khuyên bảo nhiều lần nhưng vẫn không cải thiện được. Hiện nay anh chị không còn sống chung, không còn quan tâm nhau cả về tình cảm và kinh tế. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đoàn Thùy D để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị không có con chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Đoàn Thùy D trình bày: Chị nhất trí về thời gian kết hôn như anh N trình bày là đúng, chị kết hôn với anh Lê Thế N trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống hạnh phúc được thời gian rất ngắn, sau đó đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và luôn bất đồng trong cách sống, làm ăn kinh tế, từ đó vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn cãi cọ nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Anh chị đã không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai và cũng không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Mặc dù đã được gia đình và bạn bè khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm của anh chị không cải thiện được. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không có hạnh phúc nhưng chị không muốn ly hôn mong muốn vọ chồng được đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy chị không nhất trí ly hôn với anh Lê Thế N.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị không có con chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là ly hôn. Bị đơn cư trú tại thôn T, xã B, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lào Cai theo quy định tại các Điều 28 và 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế N và chị Đoàn Thùy D kết hôn vào ngày 12/11/2024 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai (Nay là xã T, tỉnh Lào Cai) là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn trong quá trình chung sống đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc nên vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, gia đình hai bên cũng đã hoà giải nhiều lần nhưng không cải thiện được tình cảm, cả hai đã ngồi nói chuyện để đóng góp cho nhau nhưng chị D không chuyển biến sửa chữa. Anh N trình bày cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tình cảm, anh đã cố gắng rất nhiều nhưng chị D vẫn không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 không còn quan tâm đến nhau và cũng không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bản tự khai chị Đoàn Thùy D trình bày anh chị đã không còn chung sống với nhau, anh N đã về nhà bố mẹ đẻ ở không quan tâm đến nhau và cũng không còn quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Mặc dù đã được gia đình và bạn bè gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng tình cảm của anh chị không cải thiện được. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nhưng chị không muốn ly hôn mong muốn vợ chồng được đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhận thấy việc chị D thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn là dấu hiệu rõ ràng cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, việc mâu thuẫn đã tồn tại, kéo dài mà không thể hàn gắn, không còn mong muốn tiếp tục chung sống thì đời sống vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu cho anh Lê Thế N được ly hôn với và chị Đoàn Thị D1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên toà chị Đoàn Thùy D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. chị vẫn giữ nguyên ý kiến không muốn ly hôn mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nhưng cũng không nộp được chứng cứ nào khác để bảo vệ quan điểm của mình.
[3] Về quan hệ con chung: Các đương sự đều xác nhận không có con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đúng quy định.
[4] Về quan hệ tài sản chung: Anh Lê Thế N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Buộc anh Lê Thế N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 271, 273, Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thế N được ly hôn chị Đoàn Thùy D. quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Thế N và chị Đoàn Thùy D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: Anh Lê Thế N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh Lê Thế N đã nộp 300.000 theo biên lai số 0001375 ngày 17/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Hương |
Bản án số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI về ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thế N và Đoàn Thuỳ D
