|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ Bản án số: 53/2025/HS-ST Ngày 30 - 9 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và ông Nguyễn Xuân Thịnh
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Bùi Huy G (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 7 năm 1996; nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Bùi Văn T và bà Phùng Thị T1; vợ là Bùi Thị Ngọc Á và có 01 con sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến nay, “có mặt”.
- Triệu Ông K (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 3 năm 2005; nơi sinh: tỉnh Lào Cai; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn N, xã D, tỉnh Lào Cai; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Triệu Ông N và bà Bàn Thị S; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2025 đến nay, “có mặt”.
- Nguyễn Văn Đ (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23 tháng 3 năm 1980; nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn D, xã Y, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Văn Đ1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2025 đến ngày 30/8/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo Lĩnh, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, “có mặt”.
- Phùng Quang T3 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23 tháng 5 năm 1990; nơi sinh: tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Phú Thọ; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Phùng Quang Đ2 (đã chết) và bà Vũ Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/6/2025 đến ngày 30/8/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo Lĩnh, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, “có mặt”.
* Người bào chữa cho bị cáo G và bị cáo K:
- Bà Nguyễn Thị Thúy H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 02 tỉnh Phú Thọ, “có mặt”.
Địa chỉ: Số A, đường T, phường V, tỉnh Phú Thọ.
* Bị hại: Công ty TNHH C (Việt Nam); Địa chỉ: Khu công nghiệp B, xã B, tỉnh Phú Thọ.
- Người đại diện hợp pháp: Bà Dư Thị T4, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn T, xã B, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Huy G ở xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (nay là xã X, tỉnh Phú Thọ) và Triệu Ông K ở xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai (nay là xã D, tỉnh Lào Cai) đều là công nhân Công ty TNHH C ở Khu công nghiệp B, thuộc địa phận xã B, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể G làm ở bộ phận thu góp rác tại các xưởng rồi chuyển xuống kho rác, Khé làm ở bộ phận ENG- SMT- A31, công việc của K là cho thiếc vào lò nung. Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên G bàn bạc với K lấy trộm các thanh thiếc của Công ty mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, mỗi thanh thiếc bán được G sẽ chia cho K là 125.000 đồng/1thanh, K đồng ý. Để có thể mang những thanh thiếc trộm cắp ra khỏi cổng công ty, G gặp và bàn bạc với Nguyễn Văn Đ ở xã Y, tỉnh Phú Thọ và Phùng Văn T5 ở xã T, tỉnh Phú Thọ (đều là nhân viên Công ty P) làm nhiệm vụ thu gom, xử lý rác thải trong Công ty TNHH C tham gia thực hiện cùng, mỗi thanh thiếc bán được G sẽ cho Đ và T5 là 200.000đ/01 thanh.
Khoảng 16 giờ 00 ngày 01/6/2025, G và K đang làm việc ở công ty, G sử dụng điện thoại của mình vào tài khoản Zalo tên “Huy Giáp” nhắn tin đến tài khoản Zalo của K tên “Văn Khé” bảo K lấy trộm thiếc, K đồng ý rồi lấy 02 hộp thiếc, trong đó 01 hộp có 20 thanh thiếc và 01 hộp có 18 thanh thiếc, giấu ở phía sau lò nung. Sau đó G gọi điện bảo Đ 18h30 cùng ngày vào kho rác để lấy thiếc. Đ đồng ý rồi điều khiển xe mô tô BKS: 88F1- 52685 chở Phùng Quang T3 đến Công ty TNHH C để lấy tài sản trộm cắp, đến cổng công ty, Đ bảo T3 đứng ngoài đợi còn Đ đi vào kho rác. Đến khoảng 17h cùng ngày G lấy 01 xe chuyên chở rác đi xuống khu vực phía sau lò nung lấy 02 hộp thiếc bên ngoài được bọc bằng bìa catong, G kiểm tra bên trong thì thấy có tổng là 38 thanh thiếc (1 hộp có đầy đủ 20 thanh thiếc và 1 hộp có 18 thanh thiếc), G liền giấu 02 hộp thiếc vào xe chở rác để tránh bị mọi người phát hiện rồi đẩy xe rác đến khu vực kho rác của công ty thì gặp Đ đang đứng đợi ở đó, tại đây G chỉ cho Đ thùng bìa cát tông bên trong có 02 hộp thiếc, Đ lấy 02 hộp thiếc bên trong có 38 thanh thiếc cho vào 01 bao tải xác rắn rồi kéo bao tải giấu ở vị trí bồn hoa (bên tay trái hướng từ kho rác nhìn ra ngoài, bên trong khuôn viên công ty). Sau đó Đ đi ra gọi T3 vào để cùng lấy thiếc ra ngoài, khi Đ và T3 đi đến vị trí bồn hoa để lấy bao tải bên trong có 02 hộp thiếc ra ngoài thì bị anh Dương Văn T6, sinh năm 1989 ở xã B, tỉnh Phú Thọ là bảo vệ Công ty TNHH C đi tuần tra phát hiện, thấy vậy Đ và T3 bỏ chạy.
Ngày 04/6/2025, Công ty TNHH C, người đại diện theo ủy quyền là chị Dư Thị T4, sinh năm 1988 ở xã B, tỉnh Phú Thọ có đơn trình báo và đề nghị Cơ quan điều tra làm rõ và xử lý đối tượng đã trộm cắp tài sản của Công ty, đồng thời giao nộp 38 thanh kim loại được để trong 02 hộp giấy trong đó 01 hộp có 20 thanh, hộp còn lại có 18 thanh, mỗi thanh nặng 1kg đều còn mới cho Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra.
Ngày 04, 05/6/2025, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 đã tới Đồn công an khu công nghiệp B và Cơ quan điều tra Công an tỉnh V đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đồng thời G tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 16 ProMax; Đ tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động S1 8 cho Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra.
* Vật chứng thu giữ: 38 thanh kim loại màu trắng bạc; 01 điện thoại di động Iphone 16 ProMax và 01 điện thoại di động S1 8.
* Kết quả định giá tài sản:
Ngày 06/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đã ra Yêu cầu định giá tài sản số A3980 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá đối với 38 thanh kim loại thiếc, dạng hình trụ vuông, dài khoảng 30cm. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50 ngày 11/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Giá trị tài sản của 38 thanh kim loại thiếc, dạng hình trụ vuông, dài khoảng 30cm là 47.271.506 đồng.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 13 tháng 9 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên toà Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 về tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3.
Xử phạt Bùi Huy G từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 10 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 08 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Xử phạt Triệu Ông Khé từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm 04 tháng đến 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Xử phạt Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 02 năm 04 tháng đến 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Xử phạt Phùng Quang T3 từ 09 tháng đến 01 năm 02 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm 04 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo đều không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 bao tải màu xanh, bên trong có 02 hộp bìa cát tông, trong đó 01 hộp có 20 thanh, hộp còn lại có 18 thanh xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH C. Ngày 14/8/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho chị Dư Thị T4 là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH C. Sau khi nhận lại tài sản chị T4 không có yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 16 ProMax thu giữ của G; 01 điện thoại di động S1 8 thu giữ của Đ xác định là tài sản của Đ và G sử dụng làm phương tiện để thực hiện việc trộm cắp tài sản do vậy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động của K do K làm rơi mất, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo G và bị cáo K. Bị cáo Đ và bị cáo T3 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Bùi Huy G và Triệu Ông Khé trình bày: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát đã truy tố với các bị cáo, xong người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo vì các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, là người dân tộc thiểu số, cư trú ở địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, các bị cáo đều đã có đơn xin miễn án phí; trên cơ sở đó người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung và tiền án phí cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Các bị cáo không có ý kiến bổ sung gì khác và không có ý kiến tham gia tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Các bị cáo rất ân hận, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và xin được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội hòa nhập với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an huyện B (nay là Công an tỉnh P), Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ) đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, hỏi cung bị can, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
- [2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ. Các bị cáo khai nhận: Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 16 giờ 00 ngày 01/6/2025, tại Công ty TNHH C ở Khu công nghiệp B, thuộc địa phận xã B, tỉnh Phú Thọ; Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Văn T5 đã cùng nhau lén lút trộm cắp 38 thanh thiếc của Công ty TNHH C có trị giá là 47.217.506 đồng, nhưng chưa kịp mang ra khỏi công ty để tiêu thụ thì bị phát hiện.
- [3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi lén lút trộm cắp tài sản công ty của Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật quy định:
“... 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”.
- [4] Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, xong hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác là trái pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi, nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong vụ án này các bị cáo đã thực hiện đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội Trộm cắp tài sản nhưng chưa kịp mang số tài sản trộm cắp (38 thanh thiếc) ra khỏi khu vực quản lý của Công ty TNHH C thì bị phát hiện là ngoài ý muốn của các bị cáo, nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 15 và Khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Các bị cáo Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 trước khi phạm tội đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo G, K, Đ và T3 đã đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 4 bị cáo; Bị cáo G đã có thời gian tham gia quân ngũ; bị cáo Đ có bố là ông Nguyễn Văn Đ1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó cả 4 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy các bị cáo Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước tạo điều kiện cho các bị cáo lao động và rèn luyện tại địa phương. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Trong vụ án này bị cáo Bùi Huy G là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Các bị cáo Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ là đồng phạm giúp sức tích cực và bị cáo Phùng Quang T3 là đồng phạm giúp sức. Nên xử phạt bị cáo Bùi Huy G mức hình phạt cao nhất, bị cáo K và Đ mức hình phạt bằng nhau, bị cáo T3 mức hình phạt thấp nhất;
- [5] Về hình phạt bổ sung: Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- Đối với 01 bao tải màu xanh, bên trong có 02 hộp bìa cát tông, trong đó 01 hộp có 20 thanh, hộp còn lại có 18 thanh xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH C. Ngày 14/8/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho chị Dư Thị T4 là người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH C. Sau khi nhận lại tài sản chị T4 không có yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 16 ProMax thu giữ của G; 01 điện thoại di động S1 8 thu giữ của Đ xác định là tài sản của Đ và G sử dụng làm phương tiện để thực hiện việc trộm cắp tài sản do vậy cần tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động của K do K làm rơi mất, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.
- [7] Về án phí: Các bị cáo Bùi Huy G và Triệu Ông Khé Do đều là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng đồng bào có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn tiền án phí phải nộp nên Hội đồng xét xử miễn số tiền án phí hình sự sơ thẩm phải nộp cho các bị cáo.
- [8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Phú Thọ tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bùi Huy G, Triệu Ông K, Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Bùi Huy G 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Triệu Ông K 01 năm 02 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 04 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 năm 02 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 04 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Phùng Quang T3 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015: Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho các bị cáo Bùi Huy G và Triệu Ông Khé nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Giao bị cáo Bùi Huy G cho Ủy ban nhân dân xã X, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Triệu Ô Khé cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Bùi Huy G cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu bán để sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 16 ProMax đã cũ, qua sử dụng của Bùi Huy G và 01 điện thoại di động S1 8 đã cũ, qua sử dụng của Nguyễn Văn Đ.
(Vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng lập ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa Công an tỉnh P với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Phú Thọ).
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Phùng Quang T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm phải nộp cho các bị cáo Bùi Huy G và Triệu Ông K.
- Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 53/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 53/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản của Công ty (Phạm tội chưa đạt)
