Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 53/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

khi ly hôn giữa anh H và chị H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Lưu Xuân Tiến

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Khôi – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – N sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 161/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Sơn H, sinh ngày 04/04/1968; (vắng mặt)

Số CCCD: [...]

Nơi thường trú: A11, P212, tập thể K, phường K, thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện nay: Số C, ngõ B Đ, phường H, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Chị Lê Thị H1, sinh ngày 12/9/1981; (vắng mặt)

Số CCCD: [...]

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Sơn H trình bày: Anh và chị Lê Thị H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là UBND phường K, thành phố Hà Nội) ngày 22 tháng 11 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 11 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H1 không có lập trường, hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống và đến ngày 06/7/2025 chị H1 đã bỏ các con ở nhà. Vợ chồng anh ly thân, hai bên không quan tâm gì đến nhau nữa từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị H1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020, hiện nay cháu L đang ở cùng với anh, cháu L1 đang ở với chị H1. Khi ly hôn, anh H đề nghị Toà án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu phải cấp dưỡng cho các con chung. Hiện nay anh đang công tác tại Công ty TNHH V, địa chỉ: Số B, tổ D, phường Y, thành phố Hà Nội, thu nhập là 20.000.000 (hai mươi) triệu đồng/ tháng đảm bảo nuôi được các con chung. Hiện nay chị H2 không có thu nhập ổn định.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn chị Lê Thị H1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Sơn H kết hôn tại UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là UBND phường K, thành phố Hà Nội) ngày 22 tháng 11 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 11 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2024 đến nay, hai bên không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, anh H làm đơn xin ly hôn, chị nhất trí ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020, hiện nay cháu L đang ở cùng với anh H, cháu L1 đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, vợ chồng tự thỏa thuận với nhau.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh và thu thập tài liệu chứng cứ tại địa phương: Đại diện Ủy ban nhân dân xã N cho biết: Anh Nguyễn Sơn H, sinh năm 1968 và chị Lê Thị H1, sinh năm 1981 không đăng ký kết hôn tại UBND xã N, tỉnh Ninh Bình. Anh H và chị H1 có hai con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020 có đăng ký khai sinh tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình). Quá trình chung sống tại địa phương, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh H và chị H1 như thế nào địa phương không nắm được do các đương sự nộp đơn trực tiếp đến Tòa án mà không thông qua hòa giải cơ sở, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Sơn H, chị Lê Thị H1 vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 1 điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Sơn H: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Sơn H và chị Lê Thị H1.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H. Chị H1 có nghĩa vụ giao con chung là cháu Nguyễn Hà Lê C anh H nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H1 có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Sơn H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Sơn H và Chị Lê Thị H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. [2] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Sơn H và chị Lê Thị H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay là UBND phường K, thành phố Hà Nội). Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
  3. [3] Trong quá trình chung sống, giữa anh H và chị H1 nảy sinh mâu thuẫn; vợ chồng không có sự đồng cảm và chia sẻ với nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nếu có tiếp tục chung sống cũng không có tương lai. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn, chị H1 nhất trí ly hôn Anh Nguyễn Sơn H.

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa anh Nguyễn Sơn H và chị Lê Thị H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H đối với chị H1.

  1. [4] Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Anh H và chị H1 có hai con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đề nghị của các đương sự và ý kiến của con chung chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy: Anh H và chị H1 đều đề nghị khi ly hôn, giao cả hai con chung cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cháu L có nguyện vọng được ở với bố. Anh H không yêu cầu chị H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh. Xét thấy, đề nghị của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận. Hiện nay, cháu L1 đang ở cùng với chị H1. Do đó, chị H1 có nghĩa vụ giao cháu L1 cho anh H để nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H1 có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  2. [5] Về tài sản chung và công nợ chung: Anh H và chị H1 đều xác nhận vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. [6] Về án phí: Anh Nguyễn Sơn H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. [7] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Sơn H, chị Lê Thị H1 được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Sơn H và chị Lê Thị H1.
  2. Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao hai con chung là Nguyễn Lê Hà L, sinh ngày 27-09-2016 và Nguyễn Hà L1, sinh ngày 01-02-2020 cho anh Nguyễn Sơn H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập. Chị H1 có nghĩa vụ giao con chung là cháu Nguyễn Hà Lê C anh H nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Nguyễn Sơn H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng anh đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu số 0002179 ngày 24 tháng 10 năm 2025.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Sơn H, chị Lê Thị H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh + khu vực;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Kim Liên, tp. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 53/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 53/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị H và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger