Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Bản án số: 52/2025/HS-ST

Ngày 20 - 10 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến và trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐ-HS ngày 26/9/2025; quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐ-HS ngày 13/10/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1978; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956; con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; có vợ: Bùi Thị T1, sinh năm 1984; con: Có 03 người, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/7/2018 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã xóa tiền sự); Ngày 27/2/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 15/HSST ngày 27/02/2019 (đã được xóa án tích); Ngày 10/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 142/2020/HSST ngày 10/9/2020, chấp hành xong ngày 11/9/2021 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh N – có mặt.
  2. Họ và tên: Trần Mạnh H1 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1969; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn T2 (đã chết); con bà Nguyễn Thị C (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị T3 (đã chết); con: Có 04 người, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  3. Họ và tên: Lê Văn T4 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1977; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Lê Văn V (đã chết); con bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1931; có vợ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983; con: Có 06 người, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/6/2020, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã được xóa tiền sự); bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  4. Họ và tên: Hồ Kim Q (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1970; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Hồ Tôn V1 (đã chết); con bà Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ: Chu Thị C1, sinh năm 1976; con: Có 01 người con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/10/2018, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc (đã được xóa tiền sự); bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  5. Họ và tên: Nguyễn Văn C2 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1977; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1938; con Nguyễn Thị K1, sinh năm 1942; có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; con: Có 04 người, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  6. Họ và tên: Hồ Tôn T6 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1963; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Hồ Tôn V1 (đã chết); con Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1968; con: Có 05 người, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  7. Họ và tên: Nguyễn Văn S (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1978; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn P1 (đã chết); con Chu Thị L1 (đã chết); có vợ: Hồ Thị T7, sinh năm 1979; con: Có 05 người, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  8. Họ và tên: Nguyễn Vĩnh P2 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1981; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957; con Nguyễn Thị L2, sinh năm 1957; có vợ: Nguyễn Thị L3, sinh năm 1982; con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  9. Họ và tên: Kiều Công L4 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1966; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Kiều T8 (đã chết); con bà Trần Thị L5 (đã chết); có vợ: Lê Thị L6, sinh năm 1970; con: Có 06 người, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.
  10. Họ và tên: Trần Xuân C3 (tên gọi khác: Không); căn cước công dân số [...]; sinh năm 1981; tại xã Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A- Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo (công giáo); giới tính: Nam; đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Quang L7, sinh năm 1951; con bà Trần Thị H4, sinh năm 1953; có vợ: Đàm Thị M, sinh năm 1986; con: Có 02 người, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 đến ngày 28/7/2025, sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 21/7/2025, Trần Mạnh H1 có mời Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Nguyễn Văn H, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3 cùng trú tại xã Q, tỉnh Nghệ An đi đến nhà mình tại xóm A, xã Q, tỉnh Nghệ An để ăn cơm và tham gia đọc kinh cầu nguyện cho vợ của Trần Mạnh H1. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm và đọc kinh xong thì Lê Văn T4, Kiều Công L4, Nguyễn Văn H, Nguyễn Vĩnh P2 cùng rủ nhau đi đến gian nhà bếp nhà của Trần Mạnh H1 để đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Phỏm” được thua bằng tiền. Quá trình đánh bạc thì Hồ Kim Q có vào cầm bài và đánh thay cho Nguyễn Văn H 02 ván khi H đi vệ sinh (Chiếu bạc thứ nhất). Một lúc sau thì Trần Mạnh H1 cùng những người khác vào xem, lúc này Trần Mạnh H1 có nói với (Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3) là “Dừ còn mấy anh em ta, ta làm tí nhỏ nhỏ cho hay” thì những người này đồng ý. Sau đó, H1, T6, S và Trần Xuân C3 cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Trần Mạnh H1 nghỉ không chơi nữa mà vào ngủ thì Nguyễn Văn C2 vào thay chỗ của H1 và cùng đánh bạc với T6, S và Trần Xuân C3 (Chiếu bạc thứ hai).

* Khi đánh bạc cả hai chiếc bạc các đối tượng quy ước hình thức đánh và tính thắng thua như sau:

Những người tham gia đánh bạc sẽ sử dụng một bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài. Mỗi ván bài người nào chia bài thì sẽ được chia 10 quân bài và là người đánh đầu tiên, những người còn lại được chia 09 quân bài. Quá trình chơi bài, nếu ai đánh sang cho người bên cạnh ăn con thứ nhất thì phải trả cho người bên cạnh số tiền 10.000 đồng, ăn con thứ hai số tiền 20.000 đồng, ăn con chốt hạ (con cuối cùng của lượt đánh) số tiền 40.000 đồng. Nếu đánh sang cho người bên cạnh ăn ba con trong một ván bài thì lúc này người bên cạnh được “Ù” (tức ù đền) và người đánh phải đền làng cho những người còn lại tổng số tiền là 150.000 đồng. Quy ước mỗi “Phỏm” được hiểu là khi có 03 hoặc 04 quân bài giống nhau, cùng số nhưng khác chất (Ví dụ: 3 quân bài “J”; 3 quân “K”; 4 quân bài “9”.……) hoặc phỏm dọc là từ 03 quân bài đến 5 quân bài liên tiếp nhau cùng chất. Kết thúc ván bài: Người về nhất (tức là người có ít điểm nhất) sẽ thắng tiền của người về thứ hai số tiền 10.000đ (Mười nghìn đồng), thắng tiền của người về thứ ba số tiền 20.000 đồng, thắng tiền của người về thứ tư (tức là về bét) số tiền 30.000 đồng; người nào không có “phỏm” tức là bị “Cháy” thì phải trả cho người về nhất số tiền 40.000 đồng, trường hợp 04 người đều cháy thì hòa và chia bài lại, nếu người nào có đủ 03 “phỏm” hoặc trên ván bài có “hai dãy số cùng chất liên tiếp nhau” thì tính là “Ù” thì mỗi người thua phải trả cho người thắng số tiền 50.000 đồng.

Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 22 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an xã Q phát hiện bắt quả tang.

Tại chiếu bạc thứ nhất: Thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ gồm 52 quân bài và số tiền 3.390.000 đồng; Thu giữ 01 ví da phía trước chỗ ngồi của Nguyễn Vĩnh P2 bên trong có số tiền 2.500.000 đồng; Thu giữ 01 chiếc ví da tại túi quần bên phải của Kiều Công L4 bên trong có số tiền 500.000 đồng; Thu giữ 01 ví da để ngay tại chỗ ngồi của Lê Văn T4 bên trong có số tiền 2.020.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai: Thu giữ trên chiếu bạc 01 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ gồm 52 quân bài và số tiền 2.000.000 đồng; T9 trên nền nhà cách vị trí chỗ ngồi của Trần Xuân C3 03 mét 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 7.900.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Văn S; T9 trên nền nhà cách vị trí chỗ ngồi của Trần Xuân C3 01 mét 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 2.300.000 đồng và một số giấy tờ tùy thân mang tên Trần Xuân C3. Đối với Trần Mạnh H1 đến 08 giờ 00 phút ngày 22/7/2025 đã đến Công an xã Q để đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai nhận số tiền đã đưa đi và sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau: Nguyễn Vĩnh P2 mang theo số tiền 2.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Kiều Công L4 mang theo số tiền 900.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Văn H mang theo 1.700.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Lê Văn T4 mang theo 2.020.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Hồ Kim Q không mang theo tiền để đánh bạc tuy nhiên cầm hộ đánh bài cho Nguyễn Văn H 2 ván. Trong quá trình đánh bạc thì Hồ Kim Q có lấy tiền của H để đánh bạc; Nguyễn Văn C2 mang theo số tiền 1.200.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Hồ Tôn T6 có mang theo số tiền 215.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Văn S có mang theo số tiền 8.500.000 đồng và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc; Trần Xuân C3 mang theo số tiền trong người 2.300.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Trần Mạnh H1 có mang theo 320.000 đồng, sử dụng toàn bộ để đánh bạc.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKSKV4 ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Mạnh H1, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 về tội "Đánh bạc" theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Xử phạt Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; không phạt tiền bổ sung.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Mạnh H1, Lê Văn T4.

Xử phạt Trần Mạnh H1, Lê Văn T4 từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; không phạt tiền bổ sung.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 (Nguyễn Vĩnh P2 có thêm khoản 2) Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3

Xử phạt Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3 từ 07 tháng đến 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng; không phạt tiền bổ sung.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Hồ Tôn T6.

Xử phạt Hồ Tôn T6 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; không phạt tiền bổ sung.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với Hồ Kim Q.

Xử phạt Hồ Kim Q số tiền 20.000.000đồng đến 22.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 14.850.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Trả lại cho Nguyễn Văn S số tiền 6.000.000đồng (sáu triệu đồng).

- Về án phí:

Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy Ban thườngQuốc Hộiđịnh về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự cho bị cáo Hồ Tôn T6 và Trần Mạnh H1.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy Ban thường vụ Q1 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Mạnh H1, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố; Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 21/7/2025, tại nhà Trần Mạnh H1 thuộc Thôn A-Q, xã Q, tỉnh Nghệ An khi các đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” ăn tiền trên 02 chiếu bạc, cụ thể:

- Chiếu bạc thứ nhất các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền chứng minh là 8.410.000 đồng (tiền thu tại chiếu bạc và tiền chứng minh từng người sử dụng để đánh bạc) gồm: Nguyễn Vĩnh P2: 2.500.000 đồng; Kiều Công L4: 900.000 đồng; Nguyễn Văn H: 1.700.000 đồng; Lê Văn T4: 2.020.000 đồng và Hồ Kim Q (không mang theo tiền để đánh bạc mà cầm hộ đánh bài cho Nguyễn Văn H 02 ván).

- Chiếu bạc thứ hai có các bị cáo và sử dụng số tiền đánh bạc (tiền thu tại chiếu bạc và tiền chứng minh từ người sử dụng để đánh bạc) gồm: Nguyễn Văn C2: 1.200.000 đồng; Hồ Tôn T6: 215.000 đồng; Nguyễn Văn S: 2.500.000 đồng; Trần Xuân C3: 2.300.000 đồng; Trần Mạnh H1:320.000 đồng. Trong đó, tổng số tiền chứng minh Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3 đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hìnhh sự là 6.440.000đồng. Tổng số tiền chứng minh Nguyễn Văn C2 đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự là 6.120.000 đồng. Đối với Trần Mạnh H1 là chủ nhà cho phép các bị cáo khác đánh bạc tại nhà mình và trực tiếp có hành vi đánh bạc tại chiếu thứ 2 nên phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền được chứng minh trên 02 chiếu bạc là 14.850.000 đồng.

Hành vi mà các bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Mạnh H1, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện như quy kết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Nghệ An là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc pháp luật cấm đánh bạc dưới mọi hình thức nhưng cố ý thực hiện. Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3 quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Vĩnh P2 có ông nội (ông Nguyễn Văn M1) được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Các bị cáo được được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 (Nguyễn Vĩnh P2 có thêm khoản 2) Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Hồ Tôn T6 quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; từng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Q được tặng Huân chương chiến công hạng Ba nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Lê Văn T4 quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ (ông Lê Văn V) là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Trần Mạnh H1 quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Văn H quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá nhân thân và vai trò khi thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy:

- Bị cáo Nguyễn Văn H là người có nhân thân xấu: Ngày 12/7/2018 bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; ngày 27/2/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 15/HSST ngày 27/02/2019; ngày 10/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xử phạt 6 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 142/2020/HSST ngày 10/9/2020, chấp hành xong ngày 11/9/2021 (Hiện nay đều đã được xóa tiền sự và xóa án tích). Sau khi bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn trở về địa phương, bị cáo không tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt mà còn tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cảm hoá, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Trần Mạnh H1 khi các đối tượng đến nhà mình chơi và đánh bạc nhưng không can ngăn; khi Lê Văn T4, Kiều Công L4, Nguyễn Văn H, Nguyễn Vĩnh P2 cùng nhau đánh bạc tại nhà bếp bằng hình thức đánh bài “Phỏm” được thua bằng tiền. Sau đó bị cáo H1 có nói với Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3 là “Dừ còn mấy anh em ta, ta làm tí nhỏ nhỏ cho hay” thì những người này đồng ý và bị cáo cùng trực tiếp đánh bạc và sử dụng số tiền 320.000đồng để đánh bạc. Đối với Lê Văn T4 đã từng bị xử hành chính vào ngày 16/6/2020 về hành vi đánh bạc; bị cáo sử dụng số tiền 2.020.000đồng để đánh bạc. Cả hai bị cáo H1 và T4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương; cho các bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân tốt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đồng thời áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

Bị cáo Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 là những người trực tiếp đánh bạc, các bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương; chocáo cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân tốt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đồng thời áp dụng mức hình phạt thấp hơn bị cáo H1, T4 và áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

Bị cáo Hồ Tôn T6 là người trực tiếp đánh bạc, bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương; chobị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm và trở thành công dân tốt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đồng thời áp dụng mức hình phạt thấp hơn các bị cáo Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3.

Đối với Hồ Kim Q đã từng bị xử hành chính vào ngày 24/10/2018 đã được xóa tiền sự; bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm cầm hộ 02 ván bài cho bị cáo Nguyễn Văn H; bị cáo không mang theo tiền để đánh bạc và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo nhất thời phạm tội nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ nghiêm minh không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Quá trình các bị cáo đánh bạc thì Trần Mạnh H1 không thu lợi bất chính từ 02 chiếu bạc nên không cấu thành tội “Gá bạc” theo quy định tại Điều 322 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn H lao động tự do và bị áp dụng hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung; bị cáo bị áp dụng hình phạt tù nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Các bị cáo Trần Mạnh H1, Lê Văn T4, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 lao động tự do thu nhập không ổn định và trình bày hoàn cảnh khó khăn nên không phạt tiền bổ sung.

- Về vật chứng:

Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ là công cụ phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền chứng minh các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 14.850.000 đồng (Mười bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 6.000.000đồng trong tổng số tiền đang tạm giữ 20.850.000 đồng (Hai mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) là của bị cáo Nguyễn Văn S. Quá trình điều tra chứng minh không liên quan đến việc tội phạm nên trả lại cho bị cáo S.

Đối với 01 ví da màu nâu thu của Nguyễn Vĩnh P2; 01 ví da màu đen thu của Lê Văn T4; 01 ví da màu đen thu của Kiều Công L4; 01 ví da màu nâu thu của Trần Xuân C3; 01 ví da màu đen thu của Nguyễn Văn S. Các vật chứng này không liên quan đến tội phạm nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.

5] Về án phí:

Bị cáo Hồ Tôn T6 là người trên 60 tuổi, bị cáo Trần Mạnh H1 thuộc hộ cận nghèo năm 2025 (có giấy chứng nhận) và đều có đơn xin miễn giảm án phí nên thuộc đối tượng được miễn án phí nên miễn án phí hình sự cho hai bị cáo.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Xử phạt Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/7/2025; không phạt tiền bổ sung.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Trần Mạnh H1, Lê Văn T4.

Xử phạt Trần Mạnh H1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Xử phạt Lê Văn T4 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 (bị cáo Nguyễn Vĩnh P2 có thêm khoản 2) Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Trần Xuân C3.

Xử phạt Nguyễn Văn S 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Xử phạt Nguyễn Vĩnh P2 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Xử phạt Nguyễn Văn C2 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Xử phạt Kiều Công L4 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Xử phạt Trần Xuân C3 07 (B) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với Hồ Tôn T6.

Xử phạt Hồ Tôn T6 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”; cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không phạt tiền bổ sung.

Giao Trần Mạnh H1, Lê Văn T4, Nguyễn Văn C2, Hồ Tôn T6, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 cho chính quyền UBND xã Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với Hồ Kim Q.

Xử phạt Hồ Kim Q số tiền 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

- Về vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 14.850.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng); t rả lại cho Nguyễn Văn S số tiền 6.000.000đồng (sáu triệu đồng). Đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 03/9/2025 giữa cơ quan điều tra công an tỉnh N với Phòng G – Kho bạc Nhà nước khu vực XI.

Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ mỗi bộ bài 52 quân (Đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 15/9/2025 giữa cơ quan điều tra công an tỉnh N với Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Nghệ An.

- Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy Ban thườngQuốc H về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Văn T4, Hồ Kim Q, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn S, Nguyễn Vĩnh P2, Kiều Công L4, Trần Xuân C3 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thườngQuốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Tôn T6, Trần Mạnh H1.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã Quỳnh Sơn (để biết);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HS-ST ngày 20/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về đánh bạc

  • Số bản án: 52/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Mạnh H và Đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger