|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4-NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 10 - 2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Tùng và bà Hồ Thị Huyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4-Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4-Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2025/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 82/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1988 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt).
Số CCCD: [...].
Nơi cư trú: Thôn T, xã T (xã V, huyện V cũ), tỉnh Thanh Hóa .
- Bị đơn: Anh Cao Hữu V, sinh năm 1985 - vắng mặt.
Số CCCD: [...]
Nơi cư trú: Thôn C, xã Q (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2025, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày: Chị và anh Cao Hữu V yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân. Vợ chồng đăng ký kết hôn ngày 26/01/2011 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa). Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ tháng 5/2021, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên chị đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, không liên lạc với nhau. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh V nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Hữu V.
Về con chung: Chị và anh Cao Hữu V có 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A, sinh ngày 23/08/2011 và Cao Thị Minh T, sinh ngày 12/03/2021. Hai con chung hiện nay đang sống cùng với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A và Cao Thị Minh T, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là anh Cao Hữu V vắng mặt nên không có lời trình bày. Anh V đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Kết quả xác minh tại UBND xã Q: Chị M và anh V là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 26/01/2011. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ vì không thấy chị M, anh V có đơn yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải, địa phương cũng không nghe dư luận gì về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Hiện nay chị M và anh V đều làm công việc tự do, thu nhập như thế nào địa phương không nắm rõ. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A, sinh ngày 23/8/2011 và Cao Thị Minh T, sinh ngày 12/3/2021.
Kết quả xác minh tại Công an xã Q: Anh Cao Hữu V, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Xóm C, xã Q, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Minh H, số 12b, tổ D, khu phố B, phường L, thành phố Hồ Chí Minh. Anh V trước đây có sinh sống và làm việc trong miền nam. Tuy nhiên, từ tết năm 2025 anh V về địa phương và sinh sống làm việc tại địa phương. Khoảng 1 tháng trở lại đây (tháng 8/2025) anh V đi làm ăn ở nơi khác (nghe thông tin là tại tỉnh Bắc Ninh) nhưng vẫn thỉnh thoảng về nhà tại xóm C, xã Q. Trước lễ 2/9/2025 anh V có về nhà và nhận chế độ trợ cấp nhà nước hỗ trợ 100.000đồng nhân dịp lễ 2/9. Hiện nay anh V đi đâu, làm gì địa phương không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, 39 và Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ; Điều 147, 227 BLTTDS, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- + Về tình cảm: Cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Cao Hữu V.
- + Về con chung: Giao 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A, sinh ngày 23/8/2011 và Cao Thị Minh T, sinh ngày 12/3/2021 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh V vì chị M không yêu cầu.
- + Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- + Về án phí: Áp dụng Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/02016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Cao Hữu V đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm C, xã Q, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Minh H, số 12b, tổ D, khu phố B, phường L, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, từ tết 2025 anh V đã về địa phương sinh sống và làm việc. Theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4-Nghệ An.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị M có mặt. Ngày 20/8/2025, chị M có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Cao Hữu V đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị M và anh V.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị M và anh Cao Hữu V là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình giải quyết có căn cứ thể hiện trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng tình cảm bình thường; sau đó phát sinh mâu thuẫn do nhiều bất đồng quan điểm và không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Tòa án đã nhiều lần báo anh V lên Toà án để tham gia phiên hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng anh V không hợp tác và đều vắng mặt không có lý do. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh V ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và cho chị Trần Thị M được ly hôn với anh Cao Hữu V.
[4] Về con chung: Chị M và anh V có 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A, sinh ngày 23/8/2011 và Cao Thị Minh T, sinh ngày 12/3/2021. Ly hôn chị M có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung. Xét nguyện vọng nuôi con của chị M là phù hợp vì hiện nay cháu Tuấn A và cháu T đang ở với chị M, hai cháu còn nhỏ nên cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ và để không làm xáo trộn cuộc sống và nơi học tập của các cháu. Cháu Tuấn A có nguyện vọng được ở cùng với mẹ là chị M. Ngoài ra, anh V đã được Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhưng không có mặt, không có ý kiến, nguyện vọng về việc nuôi con chung. Vì vậy, cần giao cháu Tuấn A và cháu T cho chị M được nuôi dưỡng là phù hợp.
Do chị M không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh V. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không ai yêu cầu nên miễn xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 8, 28, 35, 39 và Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị M được ly hôn anh Cao Hữu V.
- Về con chung:
Giao 02 con chung là Cao Hữu Tuấn A, sinh ngày 23/8/2011 và Cao Thị Minh T, sinh ngày 12/3/2021 cho chị Trần Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Cao Hữu V do chị Trần Thị M không yêu cầu.
Anh Cao Hữu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 0004140 ngày 11 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Mạnh |
Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 17/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Trần Thị M Bị đơn: Anh Cao Hữu V
