Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

khi ly hôn giữa chị H và anh Th”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Lưu Xuân Tiến

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – N sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 69/2025/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh ngày 02/7/1996; (vắng mặt)

Số CCCD: [...]

Địa chỉ: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh ngày 27/5/1994; (vắng mặt)

Số CCCD: [...]

Địa chỉ: Xóm H, xã N, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị và anh Đỗ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình) ngày 12 tháng 11 năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 4 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, va chạm. Vợ chồng chị đã ly thân, hai bên không quan tâm gì đến nhau nữa từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022, hiện nay cháu K đang ở cùng với anh T. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con chung là cháu K cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty M, địa chỉ: xã N, tỉnh Ninh Bình, thu nhập khoảng 8 đến 9 triệu đồng/ tháng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Đỗ Văn T trình bày: Anh và chị Trần Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình) ngày 12 tháng 11 năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 4 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, va chạm. Vợ chồng anh đã ly thân, hai bên không quan tâm gì đến nhau nữa từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay. Nay chị H làm đơn ly hôn, anh nhận thấy vẫn còn tình cảm nên không nhất trí ly hôn với chị H, nếu chị H nhất quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022, hiện nay cháu khôi đang ở cùng với anh. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung, vợ chồng tự thỏa thuận với nhau. Hiện nay, anh đang làm tự do, thu nhập khoảng 9 đến 10 triệu đồng/ tháng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng anh không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh và thu thập tài liệu chứng cứ tại địa phương: Đại diện Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Ninh Bình cho biết: Chị Trần Thị H, sinh năm 1996 và anh Đỗ Văn T, sinh năm 1994 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 12 tháng 11 năm 2020. Chị H và anh T có 01 con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022 có đăng ký khai sinh tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình). Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh H1 với nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được. Vì theo quy định của pháp luật đương sự nộp đơn trực tiếp đến Tòa án mà không phải thông qua hòa giải cơ sở, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa chị Trần Thị H, anh Đỗ Văn T vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 1 điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị H: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022 cho anh Đỗ Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh T và chị H tự thỏa thuận. Chị H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (nay là UBND xã N, tỉnh Ninh Bình). Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

[3] Trong quá trình chung sống, giữa chị H và anh T nảy sinh mâu thuẫn; vợ chồng không có sự đồng cảm và chia sẻ với nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nếu có tiếp tục chung sống cũng không có tương lai. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, anh T có quan điểm nếu chị H nhất quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, từ khi ly thân đến nay hai bên cũng không tìm được biện pháp hàn gắn đoàn tụ nên nếu tiếp tục kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T.

[4] Về nuôi con chưa thành niên khi ly hôn: Chị H và anh T có 01 con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022. Hiện nay, cháu K đang ở cùng với anh T. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì chị nhận thấy chị có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị, hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty M, địa chỉ: xã N, tỉnh Ninh Bình, thu nhập khoảng 8 đến 9 triệu đồng/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và vợ chồng tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con chung, hiện nay anh đang làm tự do, thu nhập khoảng 9 đến 10 triệu đồng/ tháng. Căn cứ điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, nguyện vọng của các đương sự xét thấy, chị H có thu nhập khoảng 8 triệu đồng/ tháng (có xác nhận của Công ty M), nên có đủ điều kiện về kinh tế để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, cháu Đỗ Minh K còn nhỏ cần được sự chăm sóc của mẹ do vậy nên cần giao cháu K cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về trách nhiệm cấp dưỡng: Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H do chị H tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng. Hiện nay, cháu K đang ở cùng với anh T, do đó anh T có nghĩa vụ giao con chung cho chị H để nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H và anh T đều xác nhận vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T.

2. Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao con chung là Đỗ Minh K, sinh ngày 23-01-2022 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu K đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập. Anh T có nghĩa vụ giao con chung là cháu Đỗ Minh K cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu số 0001329 ngày 07 tháng 10 năm 2025.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh;

- VKSND tỉnh + khu vực;

- THADS tỉnh Ninh Bình;

- UBND xã Nam Minh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 52/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 52/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị H và anh Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger