Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – CẦN THƠ

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày 17-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Huệ;
  2. Ông Phạm Hồng Lưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tấn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Đoàn Ngọc Tuấn C, sinh năm 1997; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú:

Khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Ngọc Tuấn D-1964 (chết) và bà Huỳnh Ngọc N-1973 (sống); Con có 02 người: Lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án: Chưa;

Tiền sự: Có 01. Ngày 17/01/2025 bị Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là Công an phường T, thành phố Cần Thơ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số 15/QĐ-XPHC, chưa nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T (Nay là P trại tạm giam Cờ Đỏ).

2/ Trương Minh C1, sinh năm 2002; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi thường trú: Khu

vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Trọng N1-1977 (sống) và bà Trần Thị Mỹ D1-1979 (sống); Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực T (Nay là P trại tạm giam Cờ Đỏ). Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Em Trần An N2-2018-vắng mặt.

Người giám hộ cho bị hại: Ông Trần Văn G-1981-Có mặt.

Địa chỉ: Khu V Tràng Thọ B, phường T, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Lý Xuân T-Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố C-có mặt.

Địa chỉ: Số A, đường T, phường N, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Đoàn Ngọc Kim N3-1995-có mặt.
  • Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

  • Bà Mai Hoàng H-1995-vắng mặt.
  • Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

  • Ông Huỳnh Thế P1-1992-vắng mặt.
  • Địa chỉ: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.

  • Bà Nguyễn Thị Thúy L-1978-vắng mặt.
  • Địa chỉ: Khu V Tràng Thọ B, phường T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 09/3/2025, Đoàn Ngọc T1 C rủ Trương Minh C1 đi mua gà đá về bán kiếm tiền lời để tiêu xài, C1 đồng ý. C điều khiển xe biển số 65F1-570.10 chở C1 đi từ nhà nghỉ Á thuộc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ) đi đến khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay khu vực Tràng Thọ B, phường T, thành phố Cần Thơ) nhưng không có gà để mua, trên đường đi về C nói với C1 tìm nhà nào có trẻ em đang sử dụng thoại không có người trông giữ vào giật điện thoại bán lấy tiền tiêu xài thì C1 đồng ý. Khi đi được một đoạn, C phát hiện cháu Trần An N2, sinh ngày 23/3/2018 đang ngồi trước sân cầm điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G chơi game nên C nói với C1 có đứa bé đang cầm điện thoại chơi trước sân nhà nên C quay xe lại, dừng xe trước lộ nhà cháu N2 và kêu C1 vào lấy điện thoại. C1 đi vào giả vờ hỏi mua gà rồi dùng tay giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G của cháu N2 đang cầm trên tay rồi chạy ra xe C đang chờ sẵn, C nhanh chóng điều khiển xe chở C1 tẩu thoát. C điều khiển xe chở C1 đến tiệm Đ do anh Huỳnh Thế P1 làm chủ thuộc khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ) bán điện thoại vừa giật được của cháu N2 với giá 2.300.000 đồng. C chở C1 đi đến siêu thị C3 ăn uống hết 110.000 đồng, còn lại số tiền 2.190.000 đồng, C chia cho C1 1.100.000 đồng, C giữ 1.090.000 đồng, C và C1 đã tiêu xài cá nhân hết số tiền đã được chia.

Sau khi sự việc xảy ra, ông Trần Văn G (cha ruột của cháu Trần An N2) đến Công an phường T trình báo sự việc. Khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành trích xuất camera an ninh xác định Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc T1 C là người thực hiện hành vi cướp giật điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G của cháu N2. Quá trình điều tra, C1 và C đã thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp tài sản, tang vật gồm: Trương Minh C1 giao nộp 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 áo sơ mi ngắn tay màu đen tím, 01 quần Jean; Đoàn Ngọc Tuần C2 giao nộp 01 xe mô tô biển số 65F1 – 570.10, loại honda Vario 150 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 65F1 – 570.10; 01 nón bảo hiểm màu đen, 01 áo sơ mi ngắn tay, 01 quần Jean, tiền Việt Nam 500.000 đồng, tất cả đang được tạm giữ chờ xử lý.

Ngoài ra, Trương Minh C1 còn thừa nhận đã thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích ngày 22/02/2025 tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (nay là khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ).

Cơ quan điều tra đã thu hồi tang vật là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G tại tiệm Đ do ông Huỳnh Thế P1 làm chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 12/BKL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T (cũ) kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G, đã qua sử dụng, với giá trị là 2.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc Tuấn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Về tang vật: Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ theo quy định và ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G, đã qua sử dụng cho ông Trần Văn G.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc Tuấn C bồi thường. Gia đình bị cáo C đã bồi thường cho anh Huỳnh Thế P1 số tiền 2.300.000 đồng, anh P1 không có yêu cầu gì thêm.

Đối với 01 đĩa chứa file dữ liệu gồm: 01 (một) file dữ liệu tệp tên: "638988569429", định dạng mp4, kích thước 7,63MB, độ dài 00:02:26, từ 13:18:36 đến 13:21:02 ngày 09/3/2025 tại tiệm Đ thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ) và 01 (một) file dữ liệu tập tên: "6390009271823", định dạng. mp4, kích thước 22,3MB, độ dải 00:07:09, từ 13:11:29 đến 13:18:38 ngày 09/3/2025 tại tiệm Đ thuộc T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ) do ông Huỳnh Thế P1 giao nộp và 01 (một) file dữ liệu tên: "639452082285", định dạng, mp4, kích thước 7,79MB, độ dài 00:00:56, từ 13:03:00 đến 13:03:56 ngày 09/3/2025 tại hiện trường thuộc Kv Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, thành phố Cần Thơ) do ông Trần Văn G giao nộp được lưu hồ sơ vụ án.

Đối với ông Huỳnh Thế P1 đã thực hiện hành vi mua một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G của Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc T1 C đem bán, do ông P1 không biết điện thoại là do Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc T1 C cướp giật mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập đến vấn đề xử lý đối với ông P1 là có căn cứ.

Riêng hành vi Cố ý gây thương tích của Trương Minh C1 vào ngày 22/02/2025 tại khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ đã khởi tố vụ án và bị can Trương Minh C1 về hành vi Cố ý gây thương tích.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKSKV4 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ truy tố bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C và bị cáo Trương Minh C1 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).

Tại phiên tòa:

  • Các bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Ngọc Kim N3 trình bày bà N3 là người đưa tiền cho bị cáo Đoàn Ngọc T1 C mua giùm 01 xe mô tô nhãn hiệu honda Vario biển số 65F1-570.10 và nhờ bị cáo C đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe giùm, xe này là xe của bà N3 nên tại phiên tòa bà N3 yêu cầu được nhận lại xe mô tô nhãn hiệu honda Vario biển số 65F1-570.10 để sử dụng. Bị cáo C cũng thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà N3 tại phiên tòa, bị cáo xin cho bà N3 được nhận lại xe để sử dụng.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:

* Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trương Minh C1 và bị cáo Đoàn Ngọc T1 C cùng phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C từ 03 năm đến 04 năm tù.

- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Trương Minh C1 từ 03 năm đến 04 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • Ông Trần Văn G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.
  • Công nhận gia đình bị cáo C và ông Huỳnh Thế P1 đã thỏa thuận bồi thường cho ông Huỳnh Thế P1 số tiền 2.300.000 đồng xong, ông P1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Honda số loại Vario màu nâu đen gắn biển số 65F1-570.10 (Kiểm tra tình trạng xe tại thời điểm nhận: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Vario màu nâu đen gắn biển số 65F1-570.10, đã qua sử dụng; không có chìa khóa xe; Số khung: MH1KF4118KK700534, số máy KF411E1703206, yên xe bị khóa nên không thể kiểm tra tình trạng bên trong yên xe; Dàn áo mũ nhựa có vết trầy, có vết nám đen ở mặt dàn áo nhựa trước xe; xe không có gương chiếu hậu).
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046943, biển số đăng ký 65F1-570.10 (Tên chủ xe Đoàn Ngọc Tuấn C).
  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ QUATEST; 01 (một) nón bảo hiểm lưỡi trai nữ màu trắng, phía trước có dòng chữ cKc (CHUN KUA); 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, màu trắng hiệu ALEX; 01 (một) quần Jean nam, ống ngắn, màu đen; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô màu đen-tím, phía sau có dòng chữ EVISU; 01 (một) quần Jean nam, ống dài, màu đen (phía trước hai ống quần bị rách bốn lỗ).
  • Trả lại cho bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C số tiền Việt Nam 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
  • Công nhận Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G, đã qua sử dụng cho ông Trần Văn G.
  • Đối với 01 đĩa chứa file dữ liệu gồm: 01 (một) file dữ liệu tệp tên: "638988569429", định dạng mp4, kích thước 7,63MB, độ dài 00:02:26, từ 13:18:36 đến 13:21:02 ngày 09/3/2025 tại tiệm Đ thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ) và 01 (một) file dữ liệu tập tên: "6390009271823", định dạng. mp4, kích thước 22,3MB, độ dải 00:07:09, từ 13:11:29 đến 13:18:38 ngày 09/3/2025 tại tiệm Đ thuộc T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ) do ông Huỳnh Thế P1 giao nộp và 01 (một) file dữ liệu tên: "639452082285", định dạng, mp4, kích thước 7,79MB, độ dài 00:00:56, từ 13:03:00 đến 13:03:56 ngày 09/3/2025 tại hiện trường thuộc Kv Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (Nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, thành phố Cần Thơ) do ông Trần Văn G giao nộp nên lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.

* Về các vấn đề khác:

Đối với bà Đoàn Ngọc Kim N3 trình bày xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vario biển số 65F1-570.10 là do bà N3 nhờ bị cáo C mua và đứng tên giấy xe giùm, tại phiên tòa bà N3 yêu cầu nhận lại xe nhưng bà không chứng minh được bà là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vario biển số 65F1-570.10 nên yêu cầu của bà không có cơ sở chấp nhận nên không xem xét trả xe cho N3 là phù hợp.

Đối với ông Huỳnh Thế P1 đã thực hiện hành vi mua một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G của Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc T1 C đem bán, do ông P1 không biết điện thoại là do Trương Minh C1 và Đoàn Ngọc T1 C cướp giật mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập đến vấn đề xử lý đối với ông P1 là có căn cứ.

Riêng hành vi Cố ý gây thương tích của Trương Minh C1 vào ngày 22/02/2025 tại khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ đã khởi tố vụ án và bị can Trương Minh C1 về hành vi Cố ý gây thương tích.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, trường hợp cần thiết sẽ công bố lời khai, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, có đủ cơ sở xác định vào ngày 09/3/2025, bị cáo C sử dụng xe mô biển số 65F1 - 570.10 loại honda Vario 150 rủ bị cáo C1 đi cướp giật tài sản, bị cáo C1 đã cướp giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A15, 128G của cháu Trần An N2 sinh ngày 23/3/2018 rồi chạy ra xe nơi bị cáo C đợi sẵn để tẩu thoát, chiếc điện thoại được định giá là 2.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Xét các bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng vì động cơ tham lam, hám lợi, xem thường pháp luật nên các bị cáo cố ý thực hiện cho được hành vi này. Về nhân thân của bị cáo C và bị cáo C1 chưa tốt; đối với bị cáo C có 01 tiền sự vào ngày 17/01/2025 bị Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến nay chưa nộp phạt nên tiền sự chưa xóa, nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội cướp giật tài sản; Đối với bị cáo C1 có hành vi Cố ý gây thương tích xảy ra vào ngày 22/02/2025 tại khu vực L, phường T, thành phố Cần Thơ đã bị khởi tố vụ án và bị can đối với C1, đến ngày 09/3/2025 bị cáo C1 tiếp tục thực hiện hành vi cướp giật tài sản, điều này cho thấy các bị cáo xem thường pháp luật, ý thức sửa đổi bản thân là rất kém. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Bị cáo C là người rủ rê bị cáo C1 thực hiện hành vi phạm tội, lẽ ra hình phạt dành cho bị cáo C phải cao hơn hình phạt dành cho bị cáo C1. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo C đã bồi thường số tiền bán điện thoại cho ông P1 xong, tại phiên tòa người giám hộ cho bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Đối với bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo C đã bồi thường tiền cho ông P1 xong; Người giám hộ cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
  • Đối với bị cáo Trương Minh C1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • Ông Trần Văn G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết.
  • Công nhận gia đình bị cáo C và ông Huỳnh Thế P1 đã thỏa thuận bồi thường cho ông Huỳnh Thế P1 số tiền 2.300.000 đồng, ông P1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[7] Về hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định.

[8] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Ngọc Kim N3 trình bày bà N3 là người đưa tiền cho bị cáo Đoàn Ngọc T1 C mua giùm xe mô tô nhãn hiệu honda Vario biển số 65F1-570.10 và nhờ bị cáo C đứng tên giấy đăng ký xe giùm nên tại phiên tòa bà N3 yêu cầu nhận lại xe để sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, bà N3 không có ý kiến và yêu cầu gì đối với xe mô tô nhãn hiệu honda Vario biển số 65F1-570.10, tuy nhiên, tại phiên tòa bà yêu cầu nhận lại xe nhưng bà không chứng minh được chiến xe này là thuộc quyền sở hữu của bà, vì xe mô tô nhãn hiệu honda Vario biển số 65F1-570.10 do bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C mua và đang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, bị cáo C sử dụng xe từ trước đến nay nên bà yêu cầu trả lại xe là không có cơ sở chấp nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét trả cho bà N3 là phù hợp.

[9] Xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại thống nhất với nhận định, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.

Xét lời đề nghị của trợ giúp viên pháp lý và đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C và bị cáo Trương Minh C1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
    • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc T1 C 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 12/3/2025.
    • - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Trương Minh C1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 12/3/2025.
    • Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 máy nhãn hiệu Honda số loại Vario màu nâu đen gắn biển số 65F1-570.10 (Kiểm tra tình trạng xe tại thời điểm nhận: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda số loại Vario màu nâu đen gắn biển số 65F1-570.10, đã qua sử dụng; không có chìa khóa xe; Số khung: MH1KF4118KK700534, số máy KF411E1703206, yên xe bị khóa nên không thể kiểm tra tình trạng bên trong yên xe; Dàn áo mũ nhựa có vết trầy, có vết nám đen ở mặt dàn áo nhựa trước xe; xe không có gương chiếu hậu).
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 046943, biển số đăng ký 65F1-570.10 (Tên chủ xe Đoàn Ngọc Tuấn C).
    • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ QUATEST; 01 (một) nón bảo hiểm lưỡi trai nữ màu trắng, phía trước có dòng chữ cKc (CHUN KUA); 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, màu trắng hiệu ALEX; 01 (một) quần Jean nam, ống ngắn, màu đen; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô màu đen-tím, phía sau có dòng chữ EVISU; 01 (một) quần Jean nam, ống dài, màu đen (phía trước hai ống quần bị rách bốn lỗ).
    • Trả lại cho bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn C số tiền Việt Nam 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
    • (Vật chứng được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Cần Thơ theo Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKSKV4 ngày 18/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ).

  3. Về án phí: Bị cáo C và bị cáo C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND KV4;
  • - CAND TPCT;
  • - Phòng THADS KV4-CT;
  • - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Sáu

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CẦN THƠ về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Ngọc Tuấn Cường và bị cáo Trương Minh Chiến phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger