Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/HS-ST

Ngày: 28-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tám
  • Ông Nguyễn Thành Trung
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tín – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/9/1973 tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Cao Thị N (đã chết); Bị cáo T có vợ tên Đoàn Thị H, sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2003, hiện sống cùng bị cáo; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo được điều tra tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • - Người bị hại: Chị Trần Mai Anh T2, sinh năm 1997.
  • Địa chỉ: số B đường T, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
  • Người đại diện ủy quyền: Ông Trần Văn N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: số D tổ B, ấp A, xã C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1972. Địa chỉ: số F Khóm A, xã L, tỉnh Đồng Tháp.
    2. Người đại diện ủy quyền: Ông Trịnh Hải C, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khóm A, xã L, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)
    3. Ông Phạm Thanh C1, sinh năm 1984. Địa chỉ: khu phố B, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Thanh T có giấy phép lái xe ôtô hạng D, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp có giá trị đến ngày 10/11/2026. T lái xe thuê cho bà Nguyễn Thanh H1, sinh năm: 1972, nơi thường trú: Khóm A, xã H, tỉnh Đồng Tháp.

Vào ngày 29/01/2025 T điều khiển xe ôtô tải biển số 70H-010.86 chở hàng hóa là nông sản đi từ khu vực S đến thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 11 giờ 26 phút cùng ngày, lưu thông trên Quốc lộ A hướng từ M đi T. Khi đến km 1998+600m đoạn thuộc ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp, lúc này xe đang lưu thông ở làn thứ 2 (làn dành cho xe ô tô và mô tô) T mở đèn tín hiệu bên phải rồi chuyển vào làn phía trong (làn dành cho xe mô tô, xe gắn máy và xe thô sơ) để chuyển hướng rẽ phải vào tuyến tránh thị xã C (nay là đường T). Do chuyển làn để chuyển hướng thiếu chú ý quan sát nên đã để phía trước bên phải xe ô tô 70H-010.86 va chạm vào xe mô tô biển số 63L1-9364 do chị Trần Mai Anh T2, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Số B, đường T, phường V, thành phố Hồ Chí Minh điều khiển, lưu thông cùng chiều phía trước đi thẳng. Hậu quả chị Anh T2 bị thương, xe mô tô biển số 63L1-9364 bị hư hỏng.

Theo Biên bản dựng lại hiện trường kèm theo sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập lúc 09 giờ 45 phút, ngày 31/3/2025 ghi nhận như sau:

Hiện trường hướng từ M đến T, giao lộ giữa Quốc lộ A với tuyến tránh Cai Lậy có hệ thống đèn tín hiệu giao thông hoạt động bình thường, đảo nổi giao thông Quốc lộ A với tuyến đường dẫn vào tuyến tránh Cai Lậy. Quốc lộ A mặt đường tráng nhựa đường gồm hai phần đường, giữa hai phần đường có dãy phân cách cứng, mỗi phần đường rộng 10,40m. Mỗi phần đường gồm 03 làn đường từ phải sang trái rộng 3,20m; 3,60m; 3,60cm, giữa các làn đường có vạch sơn màu trắng đứt nét. Quan sát đoạn trước nơi xảy ra tai nạn có gờ giảm tốc vạch ngang mặt đường màu vàng và biển báo 423b “Đường người đi bộ sang ngang”. Tuyến đường dẫn vào tuyến tránh Cai Lậy là đoạn đường cong, mặt đường tráng nhựa đường, có vạch sơn trắng đứt nét và liền nét giao với vạch giữa làn đường 3,20m với 3,60m trên Quốc lộ A vào tuyến đường tránh cong về bên phải, đoạn đường cong mép đường đá gồ ghề và cát nham nhở không xác định được mép đường, chiều rộng điểm mở trên tuyến Quốc lộ A đi vào tuyến tránh Cai Lậy rộng 42,6m.

Chọn số 1 là vùng va chạm giữa xe mô tô biển số 63L1-9364 và xe ô tô tải biển số 70H-010.86; số 2 là vị trí vết cày trên mặt đường; số 3 là vị trí xe mô tô biển số 63L1-9364; số 4 là vị trí vết phanh; số 5 là vị trí vùng chất màu đỏ (nghi máu); số 6 là vị trí xe ô tô tải biển số 70H-0010.86; số 7 là vị trí trụ điện số 114, xác định là điểm mốc. Lấy vạch sơn trắng đứt nét và liền nét giao với vạch giữa làn đường rộng 3,20m và 3,60m trên Quốc lộ A vào tuyến tránh cong về bên phải làm chuẩn các dấu vét phương tiện đo vào vạch sơn chuẩn. Mô tả theo số thứ tự vị trí như sau:

  1. Vùng va chạm giữa xe mô tô biển số 63L1-9364 và xe ô tô tải biển số 70H-010.86 xác định trên mặt đường có đường kính 01m. T3 vùng va chạm đo vào vạch sơn làm chuẩn là 1,20m.
  2. Vị trí vết cày trên mặt đường có kích thước dài 6,20m và rộng nhất 1,3m. Đầu vết cày đo đến tâm vùng và chạm (1) là 1,83m và đo vào vạch sơn làm chuẩn là 1,30m.
  3. Vị trí xe mô tô biển số 63L1-9364 ngã về bên phải trên mặt đường, bên dưới đầu xe là cuối vết cày (2). Trục bánh xe trước đo vào vạch sơn làm chuẩn là 1,20m, đo đến tâm vùng và chạm (1) là 7,08m và đo đến đầu vết cày (2) là 5,26m. Trục bánh xe sau đo vào vạch sơn làm chuẩn là 0,40m.
  4. Vị trí vết phanh trên mặt đường dài 12,00m, đầu vết phạm đo và vạch sơn làm chuẩn là 2,00m và đo đến trục bánh xe trước xe mô tô (3) là 1,23m. Cuối vết phanh là bên dưới lốp trục thứ tư bên phải xe ô tô tải biển số 70H-010.86.
  5. Vị trí vùng chất màu đỏ (nghi máu) có kích thước (1,40x1,00)m trên mặt đường, tâm vùng đo vào vạch sơn làm chuẩn là 0,90m và đo đến trục bánh xe sau xe mô tô (3) là 5,10m.
  6. Vị trí xe ô tô tải biển số 70H-010.86 dừng trên mặt đường, phương tiện gồm bốn trục, trục thứ nhất bên phải đo vào vạch sơn làm chuẩn là 3,10m; trục thứ hai bên phải đo vào vạch sơn làm chuẩn là 2,90m; trục thứ ba bên phải đo vào vạch sơn làm chuẩn là 2,45m và trục thứ tư bên phải đo vào vạch sơn làm chuẩn là 2,30m.
  7. Vị trí trụ điện số 114, xác định là điểm mốc. Từ điểm mốc đo đến vạch sơn làm chuẩn là 5,70m, đo đến tâm vùng va chạm (1) là 14,45m và đo đến đầu vết cày (2) là 16,06m.

Khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:

  • - Xe ô tô tải biển số 70H-010.86 gồm 04 trục: Trục thứ nhất và thứ hai mỗi bên là lớp đơn; Trục thứ ba và thứ tư mỗi bên là lốp đôi. T3 trục đo xuống mặt đường là 53cm.
    • + Vết trượt bong tróc sơn dưới bên phải đầu xe kích thước (28x22)cm. T3 vết cách mặt đường 64cm.
    • + Vết trầy xước nhựa bên dưới bệ bước buồng lái bên phải, kích thước (36x10)cm. T3 vết cách mặt đường 47cm.
    • + Lớp trục thứ hai bên phải, vết trượt mặt ngoài kích thước (16x10)cm, cách tâm trục 48cm.
    • + Vết ám màu nâu đen trên dè chắn bùn trục thứ hai bên phải rọng 46cm, cách mặt đường 52cm.
    • + Vết ám màu nâu đen trên dè chắn bùn trục thứ tư bên phải rộng 64cm, cách mặt đường 64cm.

Hệ thống phanh, hệ thống đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu, hệ thống còi hoạt động bình thường.

  • - Xe mô tô biển số 63L1-9364:
    • Gương chiếu hậu bên trái, bên phải gãy mất;
    • Ống tay cầm, đầu tay thắng bên phải bị mài mòn kim loại;
    • Tay cầm bên phải lệch từ trước ra sau, từ ngoài vào trong;
    • Toàn bộ phần đầu xe phía trước bể nát, hư hỏng hoàn toàn;
    • Gác chân phía trước bên phải cong vênh từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong, đầu gác chân mài mòn;
    • Tay cầm bên trái lệch từ sau ra trước, từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên;
    • Phuộc trước bên phải bị cong vênh từ trước ra sau;
    • Baga giữa bung hở, công vênh từ trước ra sau, từ dưới lên trên;
    • Yên xe rơi mắt, yếm chắn gió bên phải, trái gãy mất.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 67-2025/KLTTCT-TTPY ngày 10/03/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, đối với Trần Mai Anh T2 như sau: Vết mổ vùng bẹn trái; Sẹo mỏm cụt 1/3 trên đùi trái; Vết thương vùng tầng sinh môn; Dập nát gần hoàn toàn cơ đùi trái mặt trước trong và sau. Trật hở hoàn toàn khớp gối trái tắc bó mạch đùi trái đã phẩu thuật đoạn chi ở 1/3 trên đùi trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Mai Anh T2 là: 69% (Sáu mươi chín phần trăm). Hiện tại thương tích điều trị chưa ổn định. Đề nghị giám định bổ sung khi thương tích ổn định.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 80-2025/KLTTCT-TTPY ngày 12/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, đối với Trần Mai Anh T2 như sau: Sẹo mổ từ vùng bẹn trái đến 1/3 trên đùi trái; S ghép da 1/3 trên trước đùi phải; Sẹo làm hậu môn nhân tạo hố chậu trái; Sẹo vết thương vùng hậu môn trái, cách hậu môn 01cm; Mỏm cụt 1/3 trên đùi trái. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Mai Anh T2 tại thời điểm giám định là: 70% (Bảy mươi phần trăm).

Tại Bản kết luận số 574/KL-KTHS ngày 30/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận về đối tượng giám định, như sau:

  • - Không phát hiện dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định.
  • - Quan sát đối tượng ảnh trong nội dung video cần giám định, xác định tại thời điểm 11 giờ 26 phút 42 giây ngày 29/01/2025 (theo thời gian hiển thị trên màn hình video) trước khi xảy ra va chạm giữa hai xe:
    • + Xe mô tô chạy trước, lưu thông trên làn đường số 3.
    • + Xe ô tô chạy sau, lưu thông trên làn đường số 2 và số 3 (làn đường số 2 và số 3 phân cách bởi vạch sơn kẻ đường nét đứt).
  • + Không đủ cơ sở kết luận xe ô tô và xe mô tô có chuyển làn đường hay không.
  • - Quan sát đối tượng ảnh tại thời điểm xảy ra va chạm giữa hai xe, xác định điểm va chạm giữa hai xe là trên là trên làn đường số 3 đoạn có đường dẫn vào tuyến tránh thị xã C.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Thanh T do Bệnh viện Đ lấy mẫu lúc 14 giờ 45 phút ngày 29/01/2025 là 0.52 mmol/l (nằm trong khoảng tham chiếu <10.9 mmol/l), kết quả xét nghiệm miễn dịch (chất kích thích): âm tính.

Vật chứng tạm giữ:

  • - 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu điện tử ghi nhận diễn biến vụ tai nạn;
  • - 01 (một) xe ô tô tải biển số 70H-010.86;
  • - 01 (một Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số đăng ký 70H-010.86;
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 70H-010.86 có giá trị đến ngày 30/5/2025.
  • - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng D số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ, cấp ngày 10/11/2021 mang tên Nguyễn Thanh T, có giá trị đến ngày 10/11/2026;
  • - 01 (một) xe mô tô gắn biển số 63L1-9364, hư hỏng sau tai nạn giao thông;
  • - 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển số đăng ký 63L1-9364;
  • - 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T (nay là tỉnh Đồng Tháp), cấp vào ngày 28/01/2016 mang tên Trần Mai Anh T2, có giá trị không thời hạn;

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra xử lý vật chứng bằng hình thức:

  • - Trả xe mô tô gắn biển số 63L1-9364 cùng Giấy đăng ký xe và Giấy phép lái xe hạng A1 cho chị Trần Mai Anh T2;
  • - Trả xe ô tô tải biển số 70H-010.86 cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Chủ xe ô tô tải biển số 70H-010.86 và bị cáo Nguyễn Thanh T đã thoả thuận bồi thường cho bị hại chị Trần Mai Anh T2 tổng số tiền là 510.000.000đồng (gồm bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 63L1-9364), hiện đã bồi thường 463.000.000đồng (chủ xe ô tô 400.000.000 đồng; T 63.000.000 đồng), còn lại số tiền 47.000.000đồng bị cáo T chịu trách nhiệm bồi thường.

Về phía đại diện của xe ô tô tải 70H-010.86 không có yêu cầu gì đối với Nguyễn Thanh T.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSKV4 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định: Khoảng 11 giờ 26 phút ngày 29/01/2025 Nguyễn Thanh T là người có giấy phép lái xe ôtô hạng D trực tiếp điều khiển xe ôtô tải biển số 70H-010.86 lưu thông trên đường Q hướng M đi T. Khi đến km 1998+600m đoạn thuộc ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp, T chuyển làn đường để chuyển hướng rẽ phải vào tuyến tránh Cai Lậy thiếu chú ý quan sát bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía trước nên khi chuyển làn đã để xe ô tô va chạm với xe mô tô biển số 63L1-9364 do chị Trần Mai Anh T2 điều khiển lưu thông phía trước, bên phải cùng chiều đi thẳng. Hậu quả, chị T2 bị thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 70%, xe mô tô biển số 63L1-9364 bị hư hỏng. Do đó có cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm b Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 02 đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, xử lý vật chứng của vụ án và bị cáo phải chịu án phí theo qui định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cãi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cõ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T (nay là tỉnh Đồng Tháp), của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy (nay là Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp), của Kiểm sát viên trong quá trình tiến hành tố tụng điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, tình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là vào khoảng 11 giờ 26 phút ngày 29/01/2025, bị cáo Nguyễn Thanh T là người có giấy phép lái xe ôtô hạng D trực tiếp điều khiển xe ôtô tải biển số 70H-010.86 lưu thông trên đường Q hướng M đi T. Khi đến km 1998+600m đoạn thuộc ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo chuyển làn đường để chuyển hướng rẽ phải vào tuyến tránh Cai Lậy thiếu chú ý quan sát bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía trước nên khi chuyển làn đã để xe ô tô va chạm với xe mô tô biển số 63L1-9364 do chị Trần Mai Anh T2 điều khiển lưu thông phía trước, bên phải cùng chiều đi thẳng. Hậu quả, chị T2 bị thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 70%, xe mô tô biển số 63L1-9364 bị hư hỏng.

Lời thừa nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Thanh T điều khiển xe ô tô thiếu chú ý quan sát toàn diện, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến tai nạn. Hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ của bị cáo Nguyễn Thanh T như nêu trên đã vi phạm vào Khoản 2 Điều 13; Khoản 2, Khoản 3 Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự, nên bản cáo trạng số 03/CT-VKSKV4 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội danh và hình phạt đã nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T là nghiêm trọng, đã trực tiếp vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho sức khỏe của chị Trần Mai Anh T2 là 70%, gây tư tưởng hoang mang lo sợ trong nhân dân mỗi khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo nhận thức được rằng, xe ôtô khi tham gia giao thông đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, chỉ cần bất cẩn, cẩu thả là xảy ra hậu quả khó lường. Trong điều kiện điều khiển xe ôtô tải nặng, khi chuyển làn đường, chuyển hướng, lẽ ra bị cáo phải chấp hành đúng luật giao thông đường bộ, chú ý quan sát, giữ khoản cách an toàn, nhưng bị cáo lại chủ quan, cẩu thả, vẫn điều khiển xe ôtô không chú ý quan sát toàn diện, không làm chủ tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến tai nạn, hậu quả làm cho chị Trần Mai Anh T2 bị thương tật là 70%. Lỗi trong vụ án này hoàn toàn do bị cáo T. Hành vi phạm tội của bị cáo là hoàn toàn nguy hiểm, thể hiện tính xem thường pháp luật về đường bộ và tính mạng, sức khỏe của người khác khi tham gia giao thông đường bộ. Do đó cần áp dụng một mức hình phạt thật thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ, đồng thời để làm thức tỉnh những ai đang mang tư tưởng xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác khi tham gia giao thông đường bộ như bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:

Bị cáo Nguyễn Thanh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy sau khi phạm tội bị cáo Nguyễn Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại xong, đây

là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, bản thân không có tiền án, tiền sự, bị cáo là dân lao động, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh T đã có 02 tình tiết giảm nhẹ qui định tại Khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt các quy định của pháp luật tại địa phương, xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo là cũng đã đủ để giáo dục, cải tại bản thân bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.

[6] Về vật chứng trong vụ án: Là 01 (một) giấy phép lái xe hạng D số [...] mang tên Nguyễn Thanh T. Hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đang tạm giữ. Xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo nên giao trả lại cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án chủ xe ô tô tải biển số 70H-010.86 và bị cáo Nguyễn Thanh T đã thoả thuận bồi thường cho bị hại chị Trần Mai Anh T2 tổng số tiền là 510.000.000đồng, hiện đã bồi thường 463.000.000đồng, còn lại số tiền 47.000.000đồng. Tại đơn xin giảm án của bị hại Trần Mai Anh T2 ngày 20/11/2025 đã xác định bị cáo T đã bồi thường xong, chị đã bãi nại về dân sự và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xen xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Nguyễn Thanh T qua xét nghiệm trong máu có nồng độ cồn là 0.52 mmol/l, nằm trong khoảng tham chiếu <10.9 mmol/l. Quá trình điều tra, bị cáo khai không có sử dụng rượu, bia trước và trong khi điều khiển phương tiện gây tai nạn. Ngoài ra, không có tài liệu nào khác chứng minh nồng độ cồn trong máu của bị cáo là do sử dụng rượu, bia hay chất kích thích khác, do đó không có căn cứ để quy kết Nguyễn Thanh T phạm tội theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[10] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ về tội danh và hình phạt, Hội đồng xét xử có ghi nhận khi nghị án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
    • * Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Nguyễn Thanh T cho Ủy ban nhân xã L, tỉnh Đồng Tháp giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp bị cáo Nguyễn Thanh T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách được thực hiện theo Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách bị cáo Nguyễn Thanh T được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự.
  2. Về vật chứng:
    • - Áp dụng Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) giấy phép lái xe (bản gốc) hạng D số [...] mang tên Nguyễn Thanh T do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 10/11/2021. Tất cả số vật chứng trên hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp đang tạm giữ. Thực hiện việc giao trả vật chứng khi án có hiệu lực pháp luật.
  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND Khu vực 4, Đồng Tháp;
  • - THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - CAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Chí Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 51/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger