Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24/11/2025.

V/v: “Huỷ kết hôn trái pháp luật”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Tư và ông Hoàng Mạnh Sơn.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Linh - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1986.
  • - Bị đơn: Anh Đinh Công D, sinh năm 1985.
  • Đều địa chỉ: Khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND xã S, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Thanh P, chủ tịch UBND xã S, tỉnh Phú Thọ
  • Đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị Huy C- Chuyên viên văn phòng HĐND và UBND xã S, tỉnh Phú Thọ (Theo giấy uỷ quyền số 10/GUQ-UBND, ngày 11/11/2025)

(Chị L, anh D và bà C đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 30/7/2025 và quá trình giải quyết tại Toà án, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Công D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y (nay là xã S), tỉnh Phú Thọ ngày 13/12/2004. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ đẻ anh D tại khu F xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ nay là khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được khoảng 5 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến thường xảy ra tranh cãi bất hoà. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh D đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay không ai quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Đinh Công D.

Ngày 30/10/2025 chị L có quan điểm trình bày: Khi đăng ký kết hôn anh D chưa đủ tuổi theo quy định của pháp luật nên chị đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị L và anh D, không công nhận chị L và anh D là vợ chồng

- Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Đinh Thị N, sinh ngày 13/9/2005 và Đinh Công D1, sinh ngày 22/5/2008.

Chị đề nghị anh D trực tiếp nuôi con chung là Đinh Công D1 vì hiện tại chị không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con. Con chung là Đinh Thị N đã thành niên nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Trần Thị L không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 14/10/2025, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đinh Công D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Ban đầu khi chị L yêu cầu ly hôn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con, nhưng nếu chị L cương quyết muốn ly hôn thì anh nhất trí. Sau đó, chị L thay đổi yêu cầu và đề nghị Toà án giải quyết huỷ kết hôn trái pháp luật giữa anh và chị L vì tại thời điểm anh và chị L đăng ký kết hôn, anh chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn thì anh đồng ý vì đúng là khi đăng ký kết hôn với chị L anh chưa đủ tuổi theo quy định.

- Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung như chị L trình bày. Anh xin trực tiếp nuôi con chung Đinh Công D1, sinh ngày 22/5/2008 và tự nguyện không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

Con chung là Đinh Thị N đã thành niên, anh không đề nghị Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản và công sức đóng góp: Anh Dũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã S, tỉnh Phú Thọ trình bày:

Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn quyển sổ 01 ngày 01/01/2003, khóa ngày 31/12/2004 của UBND xã L cũ (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) và các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình năm 2000. UBND xã S xác định anh Đinh Công D, sinh năm 1985, địa chỉ: Khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ kết hôn với chị Trần Thị L, sinh năm 1986, địa chỉ: Khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ, đăng ký kết hôn ngày 13/12/2004 thì anh Đinh Công D chưa đủ điều kết hôn về tuổi kết hôn (là từ 20 tuổi). Theo sổ đăng ký kết hôn, có ghi anh D sinh ngày 13/12/1985 (anh D đủ 19 tuổi). Theo căn cước công dân của anh D, thể hiện anh D sinh ngày 15/12/1985 (anh D chưa đủ 19 tuổi). Đây là do sơ suất của cán bộ tư pháp và UBND xã L cũ (nay là UBND xã S). Vì vậy UBND xã S có quan điểm đề nghị hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Công D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Căn cứ điều 10, điều 11, điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Công D. Huỷ giấy chứng nhận kết hôn số 78/2004 ngày 13/12/2004 của UBND xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (nay là UBND xã S, tỉnh Phú Thọ. Chị L và anh D chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung Đinh Công D1, sinh ngày 22/5/2008 cho anh Đinh Công D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi chị L và anh D chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Chị Trần Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D, vì anh D tự nguyện không yêu cầu.

Con chung Đinh Thị N đã thành niên (đủ 18 tuổi), hai bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Chị Trần Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị L và anh D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng dân sự:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn khởi kiện, chị Trần Thị L đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, con chung, sau đó chị L thay đổi và yêu cầu Toà án hủy việc kết hôn trái pháp luật với anh Đinh Công D vì vậy quan hệ pháp luật là “Hủy kết hôn trái pháp luật” quy định tại khoản 7 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Đinh Công D có hộ khẩu thường trú tại khu F, xã X, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Phú Thọ.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Tại đơn khởi kiện ngày 30/7/2025, chị L đề nghị ly hôn với anh D, quan điểm của anh D là không đồng ý ly hôn vì muốn vợ chồng đoàn tụ nuôi con, nếu chị L cương quyết thì anh D đồng ý. Ngày 30/10/2025 chị Trần Thị L đề nghị huỷ kết hôn trái pháp luật với anh Đinh Công D, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị L và anh D đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) ngày 13/12/2004. Căn cứ lời trình bày của đại diện theo uỷ quyền của UBND xã S và việc xác minh tại UBND xã S thì xác định được: Tại sổ đăng ký kết hôn quyển sổ 01 ngày 01/01/2003, khóa ngày 31/12/2004 của UBND xã L cũ (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) thể hiện anh D sinh ngày 13/12/1985, theo căn cước công dân anh D sinh ngày 15/12/1985. Như vậy, khi anh D và chị L đăng ký kết hôn có vi phạm về điều kiện kết hôn là anh D chưa đủ tuổi kết hôn (từ 20 tuổi) theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP06 tháng 01 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Công D.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, chị Trần Thị L và anh Đinh Công D có 02 con chung là Đinh Thị N, sinh ngày 13/9/2005 và Đinh Công D1, sinh ngày 22/5/2008. Con chung Đinh Thị N đã thành niên, hai bên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Con chung Đinh Công D1 đang ở với anh D. Chị L và anh D đều có quan điểm khi chấm dứt quan hệ như vợ chồng, anh D trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu D1, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh D không yêu cầu. Cháu D1 đang ở cùng anh D và có nguyện vọng ở với anh D, do vậy để đảm bảo sự ổn định và phát triển về mọi mặt của con chung, cần giao cháu D1 cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh D tự nguyện không yêu cầu nhưng chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

[2.3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Trần Thị L và anh Đinh Công D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 2 điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Căn cứ khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 điều 10, điều 11, điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Công D. Huỷ giấy chứng nhận kết hôn số 78/2004 ngày 13/12/2004 của UBND xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (nay là UBND xã S, tỉnh Phú Thọ). Chị L và anh D chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

[2]. Về con chung: Giao con chung Đinh Công D1, sinh ngày 22/5/2008 cho anh Đinh Công D trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi chị L và anh D chấm dứt quan hệ như vợ chồng cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Chị Trần Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D, vì anh D tự nguyện không yêu cầu.

Chị Trần Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Con chung Đinh Thị N, sinh ngày 13/9/2005 đã thành niên, hai bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Trần Thị L và anh Đinh Công D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002521 ngày 26/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 6 – Phú Thọ;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 24/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ về huỷ kết hôn trái pháp luật

  • Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ kết hôn trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger