|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA Bản án số: 51/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04-12-2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hứa Thị Mây Sum và bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Dĩ Khang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Thanh T, sinh ngày: 10/10/1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Khánh Hòa.
Bị đơn: Ông Nguyễn X, sinh ngày: 16/7/1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại biên bản lấy lời khai, nguyên đơn – Bà Dương Thị Thanh T trình bày:
Bà với ông Nguyễn X tự nguyện tìm hiểu và tiến đến chung sống với nhau từ năm 2006 và đến năm 2008 thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã P, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 phát sinh mâu thuẫn do ông X thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu, không quan tâm đến gia đình và thường xuyên kiếm cớ mâu thuẫn với bà nên làm cho vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Hiện nay ông X không có mặt tại địa phương, cụ thể ông X bỏ đi làm tại tỉnh Lâm Đồng. Quá trình nộp đơn bà có thông báo cho ông X biết nhưng ông X không nói gì. Khi ông X về quê dự đám cưới thì bà có nói là Tòa án có liên hệ mời lên làm việc thì ông X nói là “Tao không ký, mày muốn làm gì thì làm”. Nay bà xét thấy không còn tình cảm với ông X nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông X.
- Về con chung: Bà với ông Nguyễn X có 02 con chung tên Nguyễn Đang P, sinh năm 2006 và Nguyễn Đang Đ, sinh năm 2013. Hiện cháu P đã trưởng thành còn cháu Đ đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Đang Đ và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà với ông Nguyễn Xuồng T1 thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Ông Nguyễn X trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng ông X không đến Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thanh T. Bà Dương Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn X; Giao 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Đang Đ, sinh năm 2013 cho bà Dương Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Dương Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn X; ông Nguyễn X có nơi cư trú tại thôn T, xã P, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa, quan hệ pháp luật được Tòa án xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
[2]. Về việc vắng mặt của các đương sự: Đối với nguyên đơn bà Dương Thị Thanh T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Đối với bị đơn ông Nguyễn X đã được Tòa án tiến hành niêm yết hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về hôn nhân: Bà Dương Thị Thanh T và ông Nguyễn X chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn 32/08, quyển số 01, ngày 13/5/2008. Vì vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Dương Thị Thanh T và ông Nguyễn X là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.
[3.2]. Về tình trạng hôn nhân: Bà Dương Thị Thanh T cho rằng vợ chồng chung sống một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do thường xuyên cãi vã, ông X thường xuyên tụ tập ăn nhậu, không quan tâm đến gia đình và hay kiếm cớ mâu thuẫn với bà, hiện ông X đã bỏ đi làm ăn xa. Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xác định, hiện nay ông X không có mặt tại địa phương, việc mâu thuẫn giữa bà T và ông X thì địa phương không biết nguyên nhân. Quá trình bà T nộp đơn yêu cầu ly hôn cũng như quá trình Tòa án thụ lý vụ án, bà có thông báo cho ông X biết nhưng ông X không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai theo quy định pháp luật nhưng ông X không có ý kiến cũng như không đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà T và ông X đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Thị Thanh T. Bà Dương Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Xuồng.
[3.3]. Về con chung: Bà Dương Thị Thanh T và ông Nguyễn X có 02 con chung tên Nguyễn Đang P, sinh năm 2006 và Nguyễn Đang Đ, sinh ngày 24/6/2013. Cháu P đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Cháu Nguyễn Đang Đ chưa thành niên và hiện đang sống cùng với bà T, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Đang Đ là phù hợp với nguyện vọng của cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
[3.4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Dương Thị Thanh T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn X cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương Thị Thanh T và ông Nguyễn X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thanh T.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Dương Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, Các Điều: 51, 56, 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Thanh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Xuồng.
- Về con chung: Giao 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Đang Đ, sinh ngày 24/6/2013 cho bà Dương Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. - Về án phí: Bà Dương Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001571 ngày 01/10/2025 của Chi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hứa Thị Mây Sum Nguyễn Thị Liên |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 51/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Khánh Hòa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện - cho ly hôn
