Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/DS-ST

Ngày 30-9-2025

V/v tranh chấp thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mạc Văn Mùa và bà Phạm Thị Hoan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2025/TLST-DS ngày 16/7/2025, về tranh chấp: Chia thừa kế, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 22/8/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/QÐST-DS ngày 14/9/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị B, sinh ngày 12/02/1961; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Số A Q, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
  2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị D, sinh ngày 09/11/1959; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Nơi thường trú: Số 4c T, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1 - Ông Hoàng Văn N, sinh ngày 19/05/1950; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Số A L, Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt tại phiên toà.
    • 3.2 - Bà Hoàng Thị N1, sinh ngày 15/05/1955; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Xí nghiệp vận tải ô tô số 8, phường Y, Thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên toà.
    • 3.3 - Bà Điêu Thị T, sinh ngày 22/02/1947; căn cước công dân số 02547002566; nơi thường trú, cư trú: Tổ dân phố N, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt tại phiên toà.
    • 3.4 - Chị Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 07/7/1983; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Tổ dân phố N, phường Y, tỉnh Lào Cai; vắng mặt tại phiên toà.
    • 3.5 - Ông Hoàng Văn H1, sinh ngày 16/06/1976; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Số A, xóm T, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
    • 3.6 - Bà Hoàng Thị T1, sinh ngày 19/05/1970; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Tổ A, xã P, tịnh H; vắng mặt tại phiên toà.
    • 3.7 - Bà Quách Thị Thu H2, sinh ngày 04/4/1987; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Số A T, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
  4. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H, bà Quách Thị H2: Bà Hoàng Thị D, sinh ngày 09/11/1959; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú: Nơi thường trú, cư trú: Số D T, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
  5. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị T1: Ông Hoàng Văn H1, sinh ngày 16/06/1976; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú, cư trú: Số A, xóm T, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên toà.
  6. Người làm chứng: Bà Lê Thị B1, sinh ngày 19/04/1947; nơi thường trú, cư trú: Tổ F, xã P, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên toà, nguyên đơn bà Hoàng Thị B trình bày:

Bố mẹ bà là cụ Hoàng Văn K sinh năm 1928, chết ngày 28/11/1993; cụ Nguyễn Thị T2 sinh năm 1928, chết ngày 05/4/2014, sinh được sáu người con gồm, ông Hoàng Văn T3, bà Hoàng Thị N2 (đều đã chết), bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị B. Ngoài những người nói trên bố mẹ bà không còn có người con nào khác. Ông T3 sinh năm 1947, chết ngày 09/6/2015, khi còn sống ông T3 có hai người vợ; vợ thứ nhất bà Lê Thị B1 đã ly hôn năm 1981; ông T3, bà B1 có hai người con là bà Hoàng Thị T1, ông Hoàng Văn H1; vợ thứ hai bà Điêu Thị T; ông T3, bà T có một người con là bà Hoàng Thị Thu H; ngoài ra ông T3 không còn người con nào khác. Bà N2 sinh năm 1948, chết ngày 14/4/2014, không có chồng, có một người con là bà Quách Thị Thu H2; ngoài ra bà N2 không có người con nào khác. Trước khi chết cụ K, cụ T2, ông T3, bà N2 không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ dân sự. Khi còn sống hai cụ K, T2 tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, diện tích 1328,6m² đất thổ cư, đo đạc thực tế 1301,1m² thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng; thửa đất này đã được Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện T, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) vào ngày 13/3/2012 mang tên cụ T2. Do bà N2 không lấy chồng, nên từ khi sinh ra, lớn lên là người trông coi, quản lý thửa đất và chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ cùng với bà và bà D. Sau khi bố mẹ và bà N2 chết, bà cùng bà D tiếp tục quản lý, trông coi di sản. Do các đồng thừa kế của cụ K, cụ T2 không thoả thuận được về chia di sản, nên bà B khởi kiện đề nghị Toà án chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, diện tích 1301,1m² đất ở; đề nghị chia di sản là quyền sử dụng đất về phía tây của thửa đất cho bà và phía bị đơn để giành một phần đất làm nhà thờ, phần đất còn lại chia cho bà, bà D, bà N1, ông N, bà H2 sau đã khi trích một phần đất để làm lối đi chung; xem xét công sức quản lý, duy trì di sản và trông nom, nuôi dưỡng hai cụ K, T2. Về tài sản trên đất, bà B không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu ghi nhận và xác định nếu đường ranh giới phân chia quyền sử dụng đất theo kỷ phần thừa kế của ai chùm sang kỷ phần đất đã chia cho người khác, thì người đó phải tự tháo dỡ, phá bỏ để trả lại đất cho bên kia để tạo thành đường ranh giới các thửa đất. Ngoài những nội dung trên, bà B không đề nghị giải quyết thêm nội dung nào khác.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên toà, bị đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền, bà Hoàng Thị D trình bày:

Về quan hệ gia đình, thời gian chết của hai cụ K, T2, ông T3, bà N2 cũng như di sản của hai cụ K, T2 như bà B trình bày là đúng. Về nguồn gốc thửa số 65, tờ bản đồ 42, diện tích 1301,1m² đất ở thuộc tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng là tài sản của bố mẹ bà để lại, trước khi chết bố mẹ bà cũng như ông T3, bà N2 đều không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ dân sự. Tài sản trên đất của bố mẹ bà để lại gồm một nhà 60m², một bể đựng nước 3,9m³, một giếng nước, cây cối trên đất. Đối với một nhà 28,2m², một sân lát gạch đỏ 90,5m² và hệ thống cổng gồm cánh cổng, trụ cổng, lối đi từ cổng vào tới sân lát gạch đỏ là do chị em bà tạo lập sau khi bố mẹ chết. Ngoài ra do bà N2 không kết hôn với ai, từ khi sinh ra, lớn lên đều ở cùng với bố mẹ tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 cho đến khi chết. Khi bố mẹ còn sống, bà cùng bà B, bà N2 là người chăm sóc, nuôi dưỡng hai cụ và trông nom, quản lý, duy trì di sản. Nay, nguyên đơn đề nghị chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ K, cụ T2 là thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, diện tích 1301,1m² đất ở tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng bà đồng ý và đề nghị chia di sản là quyền sử dụng đất về phía tây của thửa đất cho các đương sự (trừ ông H1, bà T1) sau đã khi trích một phần diện tích đất để làm lối đi chung; xem xét công sức trông nom, quản lý, duy trì di sản và trông nom, nuôi dưỡng hai cụ K, T2 của bà, bà N2, bà B. Về tài sản trên đất phía bị đơn không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu ghi nhận và xác định nếu đường ranh giới phân chia đất theo kỷ phần thừa kế của ai chùm sang kỷ phần đất đã chia của người khác, thì người đó phải tự tháo dỡ, phá bỏ để trả lại đất cho bên kia, tạo thành đường ranh giới thửa đất. Ngoài nội dung trên, phía bị đơn không đề nghị giải quyết thêm nội dung nào khác.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền ông H1 trình bày:

Về mối quan hệ gia đình, thời gian chết của cụ K, cụ T2, ông T3, bà N2 cũng như di sản của hai cụ K, T2; công sức trông coi, quản lý, duy trì tài sản là di sản thừa kế và công sức nuôi dưỡng hai cụ K, T2 như các đương sự trình bày là đúng. Ông H1 xác định, bố của ông là ông T3 sinh năm 1947, chết ngày 09/6/2015 là con của cụ K, cụ T2; khi ông T3 chết không có di chúc để lại, không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ dân sự. Nay các bên đương sự tranh chấp chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa số 65, tờ bản đồ số 42, diện tích 1301,1m² đất ở thuộc tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng ông đồng ý. Ông H1 xác định, khi hai cụ K, T2 còn sống các bà N2, D, B là người chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý, duy trì tài sản là di sản thửa kế. Về quan điểm giải quyết vụ án, ông đề nghị chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế được hưởng kỷ phần thừa kế bằng nhau sau khi đã trích trả công sức quản lý, duy trì di sản; công sức trông nom, nuôi dưỡng hai cụ K, T2 cho bà N2 do bà H2 làm đại diện, bà B, bà D và trích một phần diện tích đất để làm lối đi chung. Về kỷ phần thừa kế của ông và bà T1 được hưởng chung với bà T, bà H, ông đề nghị được chia chung liền một khối, để ông và bà T1 cùng sử dụng, định đoạt chung. Về tài sản trên đất, ông không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu ghi nhận và xác định nếu đường ranh giới chia đất theo kỷ phần thừa kế của ai chùm sang kỷ phần đất đã chia của người khác, thì người đó phải tự tháo dỡ, phá bỏ để trả lại đất cho bên kia. Ngoài những nội dung trên ông H1 không đề nghị giải quyết thêm nội dung nào khác.

Người làm chứng bà Lê Thị B1 trình bày: Bà và ông T3 trước đây là vợ chồng, nhưng đã ly hôn vào năm 1981; giữa bà và ông T3 có hai người con là bà T1 và ông H1. Sau khi ly hôn, ông T3 kết hôn, chung sống với bà T và có một người con là bà H; ngoài những người con nói trên ông T3 không còn người con nào khác. Nay các bên đương sự đề nghị chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ K, cụ T2 để lại tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng, bà xác định không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không có tài sản, công sức đóng góp vào khối tài sản là di sản của cụ K, cụ T2.

Xác minh tại UBND xã T, thành phố Hải Phòng xác định: Thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 có địa chỉ tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng là tài sản của cụ K, cụ T2; đến ngày 13/3/2012 được UBND huyện T, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSDĐ mang tên cụ T2. Quá trình quản lý, sử dụng thửa đất từ trước đến nay không có tranh chấp ranh giới, mốc giới. Hiện trạng đo đạc thửa đất là 1301,1m² đất ở, giảm so với diện tích tại GCNQSDĐ là sai số do đo đạc.

Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ; định giá tài sản kết quả xác định: Tổng diện tích đất thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 42 là 1301,1m² đất ở thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng. Về giá đất theo giá thị trường là 9.500.000đ/m². Các công trình xây dựng trên đất, gồm: Một nhà xây gạch ba banh 60m² trị giá 115.000.000đ; một nhà xây gạch chỉ đỏ 28,2m² trị giá 138.879.000đ; một bể đựng nước đã cũ nát trị giá 0đ; một giếng nước đã cũ nát trị giá 0đ; một sân lát gạch đỏ 90,5m² trị giá 3.846.000đ kèm theo bê tông lót diện tích 90,5m² trị giá 2.717.000đ, tổng bằng 6.563.000đ; đường bê tông từ cổng đi vào sân lát gạch đỏ 69,2m² trị giá 2.060.000đ; hai cánh cổng sắp thép kích thước 2m x 2,2m = 4,4m² trị giá 480.000đ; hai trụ cổng đã cũ nát trị giá 0đ. Cây cối trên đất, gồm: Một cây Me đường kính gốc 50cm trị giá 1.440.000đ; hai cây Nhãn đường kính tán 6m (ký hiệu nhãn 5, nhãn 6) trị giá 2.500.000đ/cây, tổng bằng 5.000.000đ; hai cây Nhãn đường kính tán 4,5m (ký hiệu nhãn 3, nhãn 4) trị giá 1.400.000đ/cây, tổng bằng 2.800.000đ; một cây Nhãn đường kính tán 5m (ký hiệu: nhãn 2) trị giá 2.000.000đ; một cây Nhãn đường kính tán 3m (ký hiệu: nhãn 1) trị giá 800.000đ; ba cây Mít đường kính gốc 15cm (ký hiệu mít 1) trị giá 550.000đ/cây, tổng bằng 1.650.000đ; một cây Hồng xiêm đường kính tán 7m (ký hiệu Hồng xiêm 1) trị giá 480.000đ; một cây Hồng xiêm đường kính tán 4m (ký hiệu: hồng xiêm 2) trị giá 264.000đ; một cây Lộc vừng đường kính tán 4m trị giá 192.000đ.

Tại phiên toà, các bên đương sự giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xác định ngoài tài sản là di sản thừa kế đang tranh chấp thì cụ K, cụ T2 không còn di sản nào khác; các bên đương sự đều không yêu cầu giải quyết tài sản trên đất mà tài sản nằm trên phần đất của ai người đó được sở hữu, không phải chia trả chênh lệch cho nhau. Nguyên đơn và phía bị đơn đều đề nghị trích trả công sức trông nom, quản lý, duy trì di sản và nuôi dưỡng hai cụ K, T2 cho bà N2 do bà H2 làm đại diện, bà B, bà D mỗi một người bằng một kỷ phần thừa kế; đề nghị chia di sản là quyền sử dụng đất cho nguyên đơn và phía bị đơn về phía tây của thửa đất để các đương sự (trừ phía ông H1) trích một phần diện tích đất làm nơi thờ cúng tổ tiên trong đó bao gồm cả kỷ phần thừa kế của bà T, bà H do bà D làm đại diện mà không kèm theo bất cứ điều kiện gì; phần diện tích đất còn lại được tiếp tục chia cho ông N, bà N1, bà N2 do bà H2 làm đại diện, bà D, bà B có chiều rộng phía trước tiếp giáp lối đi chung khoảng 4,20m; chiều rộng phía sau thửa đất khoảng 3,50m mà không phải trả chênh lệch cho nhau. Ông H1 đề nghị chia chung, liền một khối của ½ suất kỷ phần thừa kế cho ông và bà T1 để chị em thuận tiện sử dụng và định đoạt. Về án phí, bà D tự nguyện chịu cả (nộp thay) án phí dân sự sơ thẩm cho bà H2, bà H; ông H1 tự nguyện chịu cả (nộp thay) án phí dân sự sơ thẩm cho bà T1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu quan điểm: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng: Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 611, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự. Điều 45 của Luật đất đai. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về nội dung vụ án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về chia di sản thừa kế của bà Hoàng Thị B. Xác định hàng thừa kế của cụ K, cụ T2 gồm bà B, bà D, bà N1, ông N, bà N2, ông T3. Bà N2 đã chết, có một người con là bà H2 nhận kỷ phần thừa kế. Ông T3 đã chết, có vợ là bà T có ba người con là ông Hoàng Văn H1, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị Thu H nhận chung một kỷ phần thừa kế. Xác định di sản thừa kế của cụ K, cụ T2 là 1301,1m² đất ở thuộc thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng có giá 9.500.000đ/m², trị giá thành tiền 12.074.500.000đ. Đề nghị trích phần công sức, quản lý di sản cho bà D, bà B, bà N2 do bà H2 làm đại diện bằng một kỷ phần thừa kế. Ông H1, bà T1 được hưởng chung ½ của một suất thừa kế; đề nghị trích một phần đất để tạo lập lối đi chung cho các đồng thừa kế để đi vào phần đất được chia, được giao. Về tài sản trên đất và trả chênh lệch tài sản, chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ và định giá tài sản do các đương sự không đề nghị giải quyết, không tính giá trị, không đề nghị trả chênh lệch giá trị tài sản nên không đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là: HĐXX) xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm, do bà B, bà D, bà N1, ông N, bà T là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định; ông H1, bà T1, bà H, bà H2 phải chịu án phí chia tài sản đối với phần giá trị tài sản tương ứng đã nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định.

  1. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H vắng mặt, nhưng đã uỷ quyền cho bà Hoàng Thị D. Bà Hoàng Thị T1 vắng mặt nhưng đã uỷ quyền cho ông Hoàng Văn H1; người làm chứng bà Lê Thị B1 vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của những người nói trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng vẫn được đảm bảo. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Hoàng Thị B khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, diện tích 1301,1m² đất ở tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2. Do vậy, quan hệ tranh chấp là chia thừa kế theo pháp luật như theo quy định tại Điều 649, 650 của Bộ luật dân sự.
  3. Về xác định người (hàng) thừa kế theo pháp luật: Cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 có sáu người con, gồm ông Hoàng Văn T3 đã chết ngày 09/6/2015; bà Hoàng Thị N2 đã chết ngày 14/4/2014; bà Hoàng Thị N1; ông Hoàng Văn N; bà Hoàng Thị D; bà Hoàng Thị B. Ông T3 có vợ là bà Điêu Thị T và có ba người con là bà Hoàng Thị T1, ông Hoàng Văn H1, bà Hoàng Thị Thu H. Bà N2 có một người con là bà Quách Thị Thu H2. Căn cứ Điều 609, 611, 613, 614, 651 của Bộ luật dân sự, những người ở hàng thừa kế thứ nhất của cụ K, cụ T2, gồm: Ông T3, bà N2, bà N1, ông N, bà D, bà B. Ông T3 chết ngày 09/6/2015, nên bà T, bà H, bà T1, ông H1 được hưởng chung một kỷ phần thừa kế của ông T3. Bà N2 đã chết ngày 14/4/2014, nên bà H2 được hưởng kỷ phần thừa kế của bà N2.
  4. Về xác định di sản thừa kế: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, lời khai nhận của các bên đương sự, người tham gia tố tụng khác HĐXX xác định, quá trình chung sống cụ K, cụ T2 tạo lập được khối tài sản 1328,6m² đất ở thuộc thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng. Thửa đất này đã được UBND huyện T, tỉnh Hải Dương (cũ) cấp GCNQSDĐ ngày 13/03/2012 mang tên cụ T2. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xem xét thẩm định tài sản tại chỗ, xác định diện tích đất thực tế thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 là 1301,1m², giảm 27,5m² đất so với GCNQSDĐ. Xác minh việc sử dụng thửa đất trước đây, cũng như hiện trạng hiện nay sử dụng đúng ranh giới, mốc giới đất; việc giảm diện tích đất đã được phòng Kinh tế và UBND xã T, thành phố Hải Phòng xác định là sai số do đo đạc. Do vậy có căn cứ xác định di sản của cụ K, cụ T2 để lại là 1301,1m² đất ở thuộc thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42 tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng được Hội đồng định giá tài sản xác định theo giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm giải quyết vụ án 01m² đất trị giá 9.500.000đ/m² x 1301,1m² bằng 12.360.450.000đ. Về tài sản trên đất, bao gồm tài sản là di sản của hai cụ K, T2; tài sản của bà D, bà B tạo lập do hết giá trị khấu hao, không còn giá trị sử dụng, giá trị sử dụng không đáng kể, mặt khác các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu tính giá trị, nên HĐXX không xem xét giải quyết mà sau này phân chia di sản các tài sản này nằm trên phần đất của ai người đó được sở hữu hoặc nếu phạm vào đường ranh giới thì các bên đương sự tự phá bỏ.
    • [4.1]. Về tạo lập lối đi chung khi chia thừa kế; công sức trông nom, quản lý, duy trì di sản; công sức nuôi dưỡng và chia di sản thừa kế của cụ K, cụ T2:
      • [4.1.1]. Về việc tạo lập lối đi chung: Di sản thừa kế của hai cụ K, T2 là thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42 địa chỉ tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng không tiếp giáp mặt đường giao thông, duy nhất chỉ có một lối (ngõ) đi vào thửa đất rộng 2,79m, nên cần thiết phải trích một phần diện tích đất từ di sản thừa kế để làm lối đi chung cho các đồng thừa kế khi chia di sản thừa kế (có sơ đồ đất kèm theo). Theo Điều 254 Bộ luật dân sự; Quyết định số 158/2025/QĐ-UBND ngày 12/9/2025 của UBND thành phố H quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai số 31/2024/QH15, Nghị định số 102/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai, Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai trên địa phận thành phố Hải Phòng, thì trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong, đồng thời chiều rộng lối đi hẹp nhất tối thiếu là 4,0m. Vì vậy, HĐXX trích một phần diện tích đất từ di sản thừa kế của cụ K, cụ T2 là 106,8m² đất (chiều rộng lối đi là 4m) được giới hạn bởi các điểm A12.1, A12.2, A12.4, A12.5, A12.6, A12.7, A12.8, A12.9, A7, A8, A9, A10, A11, A12.1 nằm trong 1301,1m² đất thuộc thửa số 65, tờ bản đồ số 42 để làm lối đi chung cho các đồng thừa kế. Như vậy, di sản thừa kế của hai cụ K, T2 còn lại 1194,3m² đất (1301,1m²- 106,8m²), trị giá 11.345.850.000đ. Về tài sản trên đất của cụ K, cụ T2 để lại, cũng như các tài sản khác trên đất do các đương sự tạo lập, các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, không yêu cầu ghi nhận nên HĐXX không xem xét giải quyết.
      • [4.1.2]. Về công sức quản lý, duy trì di sản; công sức nuôi dưỡng hai cụ K, T2, HĐXX xác định: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời tự khai nhận của các bên đương sự có căn cứ xác định ông T3, bà N1, ông N, bà D, bà B khi lớn lên đều sinh sống, lập nghiệp tại các địa phương khác nhau, chỉ có bà N2 không kết hôn với ai và ở cùng trông nom nuôi dưỡng và quản lý, duy trì tài sản của hai cụ K, T2. Bà D, bà B mặc dù sinh sống tại thành phố H, tỉnh Hải Dương (cũ) nhưng là người cùng với bà N2 trông coi, quản lý, duy trì, tạo lập tài sản trên thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 và nuôi dưỡng cụ K, cụ T2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các bên đương sự đều thừa nhận tình tiết, sự kiện này, đề nghị trích trả công sức cho các bà N2, D, B. Theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là sự kiện, tình tiết không phải chứng minh, nên có căn cứ xem xét trích trả để đền bù công sức cho bà N2 do bà H2 làm đại diện, bà D, bà B. Vì vậy HĐXX áng trích trả để đền bù công sức cho bà N2 do bà H2 làm đại diện bằng một kỷ phần thừa kế theo pháp luật. Đối với bà B, bà D đều đề nghị đền bù công sức mỗi một người bằng một kỷ phần thừa kế, tuy nhiên HĐXX thấy rằng bà B, bà D không sinh sống trực tiếp cùng hai cụ K, T2 nhưng là người đóng góp nguồn lực vật chất, tài chính để chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ và quản lý, duy trì, tạo lập tài sản trên thửa đất của cụ K, cụ T2, nên cần áng trích đền bù công sức cho mỗi một người người ở mức ½ của một kỷ phần thừa kế. Như vậy, di sản thừa kế còn lại của hai cụ K, T2 tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 sau khi trích 106,8m² đất để làm lối đi chung; trích trả đền bù công sức cho bà N2, bà D, bà B còn lại là 895,74m² đất trị giá 8.509.530.000đ, được chia cho 06 kỷ phần thừa kế, thành tiền 1.418.255.000đ, tương đương 149,28m² đất; trong đó kỷ phần thừa kế của bà N2 đã chết sẽ do bà H2 nhận và được hưởng 02 kỷ phần thừa kế bằng 298,56m² đất; bà B, bà D mỗi người được hưởng 1,5 suất kỷ phần thừa kế bằng 223,92m² đất; bà N1, ông N mỗi một người được hưởng một suất kỷ phần thừa kế 149,28m² đất; bà T, bà H, ông H1, bà T1 được hưởng chung một suất kỷ phần thừa kế của ông T3 là 149,28m² đất.
      • [4.1.3]. Về yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, HĐXX thấy rằng: Tổng diện tích thửa đất tương đối rộng, sau khi trích một phần đất để làm lối đi chung 106,8m², trích trả đền bù công sức cho bà N2 do bà H2 làm đại diện, bà B, bà D thì di sản còn lại là 895,74m² đất, trị giá 8.509.530.000đ. Căn cứ Điều 649, 650, 651 của Bộ luật dân sự, những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất của cụ K, cụ T2 được hưởng một kỷ phần thừa kế bằng nhau là 8.509.530.000đ/06 kỷ phần bằng 1.418.255.000đ. Bà T, bà H, bà T1, ông H1 được hưởng chung một suất kỷ phần thừa kế của ông T3 là 1.418.255.000đ. Xét quan điểm của các bên đương sự (trừ phía ông H1) tự nguyện thoả thuận đề nghị chia chung liền một khối di sản là quyền sử dụng đất bao gồm cả công sức của các bà N2, D, B về phía tây của thửa đất có diện tích 1119,6m² đất là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42; nguyên đơn và phía bị đơn (trừ phía ông H1) tự nguyện thống nhất trích 458,5m² nằm trong 1119,6m² đất được chia để làm đất nhà thờ chung trong đó có kỷ phần thừa kế của bà T, bà H được hưởng là 74,64m² đất mà không kèm theo bất cứ điều kiện gì (có sơ đồ kèm theo). Phần diện tích đất còn lại của các đồng thừa kế (trừ 74,64m² đất là kỷ phần thừa kế ông H1, bà T1) chia cho bà N2 do bà H2 là người hưởng kỷ phần thừa kế được quyền định đoạt 90,3m², ông N được quyền định đoạt 91,8m², bà N1 được quyền định đoạt 93,5m², bà D được quyền định đoạt 96,4m², bà B được quyền định đoạt 289,2m² (có sơ đồ kèm theo) mà không phải thanh toán trả chênh lệch cho nhau. Xét sự tự nguyện thoả thuận nói trên không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận sự tự nguyện này. Đối với ông H1, bà T1 được hưởng chung ½ của một suất kỷ phần thừa kế của ông T3 là 74,64m² đất, trị giá 709.080.000đ; do vậy HĐXX giao cho ông H1, bà T1 được chia và sử dụng chung ½ kỷ phần thừa kế là quyền sử dụng đất bằng hiện vật (có sơ đồ kèm theo). Do chia di sản thừa kế như đã nêu ở trên, nên các đương sự phải tự mở lối đi từ phần đất đã được chia, giao của mình ra lối đi chung; đồng thời đối với toàn bộ tài sản trên đất, các bên đương sự không đề nghị giải quyết, không tính giá trị, nên khi phân chia bằng hiện vật là quyền sử dụng đất, nếu đường ranh giới phân chia các thửa đất, đi hoặc phạm vào phần tài sản hoặc cây cối trên đất của ai thì người đó có trách nhiệm tự tháo dỡ, chặt bỏ để tạo ranh giới giữa các thửa đất.
  5. Về chi phí thẩm định, định giá: Nguyên đơn bà B đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ, định giá tài sản, tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này, không yêu cầu các đương sự khác phải chịu cùng, nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.
  6. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp án phí và lệ phí Tòa án. Bà B, bà D, bà N1, ông N, bà T là người cao tuổi nên được miễn khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông H1, bà T1, bà H, bà H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị kỷ phần thừa kế được chia, trong đó ông H1 tự nguyện chịu toàn bộ án phí thay cho bà T1 là 35.454.000đ. Bà D tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm (nộp thay) cho bà H là 17.727.000đ và 54.548.000đ (đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm cho bà H2.
  7. Do chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 tại khu G, xã T, thành phố Hải Phòng, nên HĐXX kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét chỉnh lý, đăng ký biến động, thu hồi hoặc huỷ bỏ GCNQSDĐ số BE 744152, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 299 do UBND huyện T, tỉnh Hải Dương (cũ) cấp ngày 13/3/2012 mang tên cụ Nguyễn Thị T2 để làm các thủ tục về đất đai cho các bên đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 609, 611, 613, 623, 649, 650, 651, 660 và Điều 254 của Bộ luật Dân sự. Điều 137 của Luật đất đai. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia di sản thửa kế của bà Hoàng Thị B.
  2. Xác định 1301,1m² đất thổ cư (đất ở) thuộc thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng trị giá 12.360.450.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 là 12.360.450.000đ.
  3. Trích 106,8m² đất thổ cư (đất ở) trị giá 1.014.600.000đ là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng được giới hạn bởi các điểm A12.1, A12.2, A12.4, A12.5, A12.6, A12.7, A12.8, A12.9, A7, A8, A9, A10, A11, A12.1 để làm ngõ đi chung cho các đồng thừa kế của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2.
  4. Áng trích trả công sức quản lý, duy trì và công sức trông nom, nuôi dưỡng cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 cho bà Hoàng Thị N2 do bà Quách Thị Thu H2 làm đại diện được hưởng tại thửa đất số 65 tờ bản đồ số 42, địa chỉ khu G, xã T, thành phố Hải Phòng bằng một kỷ phần thừa kế theo pháp luật là 149,28m² đất thổ cư (đất ở), trị giá 1.418.255.000đ. Áng trích trả công sức quản lý, duy trì và công sức trông nom, nuôi dưỡng cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 cho bà Hoàng Thị B, Hoàng Thị D mỗi một người ½ giá trị của một suất thừa kế theo pháp luật từ di sản thừa kế tại thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 địa chỉ khu G, xã T, thành phố Hải Phòng bằng 74,64m² đất thổ cư (đất ở)/người, trị giá 709.080.000đ.
  5. Xác định di sản thừa kế chia theo pháp luật của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 là 895,74m² đất là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 - địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng trị giá 8.509.530.000đ.
  6. Xác định người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2, gồm: Ông Hoàng Văn T3 (do bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị T1, ông Hoàng Văn H1, bà Hoàng Thị Thu H là người hưởng di sản thừa kế), bà Hoàng Thị N2 (do bà Quách Thị Thu H2 là người hưởng di sản thừa kế), bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị B. Mỗi một kỷ phần thừa kế là 8.509.530.000đ/06 kỷ phần bằng 1.418.255.000đ/01 kỷ phần thừa kế.
    • 7. Chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế của cụ Hoàng Văn K, cụ Nguyễn Thị T2 như sau:
      • 7.1 - Chia, giao chung liền một khối quyền sử dụng đất cho bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H, bà Quách Thị Thu H2 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 1119,6m² đất thổ cư (đất ở) là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng, được giới hạn bởi các điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6.1, A6.2, A12.8, A12.7, A12.6, A12.5, A12.4, A12.2, A12.1, A12, A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19, A20, A12.3, A21, A21.1, A21.2, A22, A22.1, A22.2, A23, A1.
        • 7.1.1 - Ghi nhận sự tự thoả thuận của bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H, bà Quách Thị Thu H2 trích 458,5m² đất thổ cư (đất ở) nằm trong diện tích 1119,6m² đất thổ cư là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 - địa chỉ khu G, xã T, thành phố Hải Phòng để làm đất nhà thờ chung và thuộc quyền quản lý, sử dụng, định đoạt chung của bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H, bà Quách Thị Thu H2. Phần đất được giới hạn bởi các điểm A12.3, A12.2, A12.1, A12, A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19, A20, A12.3.
        • 7.1.2 - Ghi nhận sự tự thoả thuận của bà Hoàng Thị B, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị N2, ông Hoàng Văn N, bà Điêu Thị T, bà Hoàng Thị Thu H, bà Quách Thị Thu H2 về việc tự thoả thuận phân chia phần diện tích đất còn lại của các đồng thừa kế 661,1m² đất (1119,6m² - 458,5m²) nằm trong tổng số 1119,6m² đất thổ cư là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng, được giới hạn bởi các điểm: A1, A2, A3, A4, A5, A6.1, A6.2, A12.8, A12.7, A12.6, A12.5, A12.4, A12.2, A12.3, A21, A21.1, A21.2, A22, A22.1, A22.2, A23, A1 trong đó:
          • - Bà Quách Thị Thu H2 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 90,3m² đất, được giới hạn bởi các điểm A12.3, A21, A21.1, A12.4, A12.2, A12.3 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
          • - Ông Hoàng Văn N được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 91,8m² đất, được giới hạn bởi các điểm A21.1, A12.4, A12.5, A21.2, A21.1 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
          • - Bà Hoàng Thị N1 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 93,5m² đất, được giới hạn bởi các điểm A21.2, A12.5, A12.6, A22.1, A21.2 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
          • - Bà Hoàng Thị D được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 96,4m² đất, được giới hạn bởi các điểm A22.1, A12.6, A12.7, A22.2, A21.1 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
          • - Bà Hoàng Thị B được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt 289,2m² đất, được giới hạn bởi các điểm A22.2, A12.7, A12.8, A6.2, A6.1, A5, A4, A3, A2, A1, A24, A23, A22.2 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
      • 7.2 - Chia, giao chung liền một khối cho ông Hoàng Văn H1, bà Hoàng Thị T1 được quyền quản lý, sử dụng, định đoạt chung 74,64m² đất được giới hạn bởi các điểm A6.2, A6.1, A6, A12.9, A12.8, A6.2 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42 thuộc khu G, xã T, thành phố Hải Phòng.
  7. Bà N1, ông N, bà B, bà D, bà T, bà H, bà H2 có nghĩa vụ tự mở lối đi vào phần đất có diện tích 458,5m² đất; phần đất được giới hạn bởi các điểm A12.3, A12.2, A12.1, A12, A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19, A20, A12.3 là một phần của thửa đất số 65, tờ bản đồ số 42, địa chỉ: Khu G, xã T, thành phố Hải Phòng để làm nhà thờ chung.
  8. Ông Hoàng Văn N, bà Hoàng Thị N1, bà Quách Thị Thu H2, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị B, ông Hoàng Văn H1 và bà Hoàng Thị T1 có trách nhiệm, nghĩa vụ tự mở lối đi vào phần đất được chia di sản thừa kế và có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục về sử dụng đất, chấp hành quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng đất được chia (nếu có). Đối với phần đất được chia như trên, trong quá trình chia di sản thừa kế nếu phần tài sản nào liên quan (trùm) sang phần đất đã chia cho các bên đương sự, thì bên được chia phải tự thay đổi kết cấu để trả lại phần lưu không cho phía bên còn lại. Mọi tài sản khác mà các bên đương sự không đề nghị giải quyết và cây cối thuộc phần đất của ai người đó được quyền sở hữu, quản lý, sử dụng. Nếu đường ranh giới các thửa đất được chia phạm vào đất của ai thì người đó phải tự tháo dỡ, phá bỏ tài sản để tạo ranh giới hai thửa đất.

    (Có sơ đồ cụ thể kèm theo).

  9. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét chỉnh lý, đăng ký biến động hoặc thu hồi GCNQSDĐ số BE 744152, số vào sổ cấp giấy chứng nhận do UBND huyện T, tỉnh Hải Dương (cũ) cấp ngày 13/3/2012 mang tên cụ Nguyễn Thị T2.
  10. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Hoàng Thị N1, ông Hoàng Văn N, bà Hoàng Thị D, bà Hoàng Thị B, bà Điêu Thị T. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hoàng Văn H1 tự nguyện nộp thay, chịu 35.454.000đ án phí dân sự sơ thẩm (gồm chịu cả án phí dân sự sơ thẩm của bà Hoàng Thị T1). Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hoàng Thị D tự nguyện nộp thay, chịu 54.544.000đ án phí dân sự sơ thẩm của bà Quách Thị Thu H2 và 17.727.000đ án phí dân sự sơ thẩm của bà Hoàng Thị Thu H là 17.727.000đ.
  11. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hánh án dân sự./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND khu vực 8 - Hải Phòng;

- Phòng THADS khu vực 8 - Hải Phòng;

- THADS Tp Hải Phòng;

- UBND xã Thanh Hà, Tp Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP-HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG về tranh chấp thừa kế

  • Số bản án: 51/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Bưởi - Hoàng Thị Diệm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger