Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 497/2025/DS-PT

Ngày 17 tháng 12 năm 2024

V/v tranh chấp hụi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Quang Thế

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh

Bà Đinh Cẩm Đào

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn – Là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nguyệt Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025 tại Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 414/2025/TLPT-DS ngày 27/10/2025 về việc tranh chấp hụi.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 29/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 483/2025/QĐ-PT ngày 18/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Kiều H (Bé N), sinh năm 1975. Địa chỉ cư trú: Khóm B, xã S, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; Bà Huỳnh Thị Mỹ H1, sinh năm 1996. Cùng địa chỉ cư trú: Khóm C, xã S, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Văn N1, sinh năm 1995. Địa chỉ cư trú: Số F, Tô Thị T1, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau, văn bản ủy quyền ngày 09/7/2025 (có mặt)

Người kháng cáo: Bà Lê Kiều H là nguyên đơn; Ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị Mỹ H1 bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 26/5/2025, biên bản hòa giải ngày 22/7/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Kiều H trình bày: Bà làm chủ hụi ở địa phương. Vào ngày 11/10/2023âl, bà có mở dây hụi loại 3.000.000 đồng, một tháng khui 2 kỳ, hụi có 40 chưng. Vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Mỹ H1 tham gia 01 chưng, đóng được 11 kỳ, thì hốt hụi tại kỳ thứ 12 ngày 26/3/2024âl, được số tiền 98.140.000 đồng và phải đóng hụi chết 28 kỳ, đã đóng hụi được 21 kỳ, đến kỳ thứ 22 khui vào ngày 26/02/2025âl thì ngưng đóng còn lại 07 kỳ tính đến mãn hụi vào ngày 26/5/2025âl, số tiền 21.000.000 đồng. Nay bà yêu cầu vợ chồng ông T và bà H1 trả cho bà số tiền 21.000.000 đồng.

Tại biên bản hòa giải ngày 22/7/2025 và tại phiên tòa đại diện bị đơn ông Trần Văn N1 trình bày: Ông thống nhất vợ chồng T và bà H1 có tham gia 01 chưng hụi, loại 3.000.000 đồng, 01 tháng khui 2 kỳ do bà H làm chủ và đã hốt hụi vào kỳ thứ 12, được số tiền 98.140.000 đồng và đã đóng hụi chết đầy đủ. Ông xác định bị đơn chỉ nợ nguyên đơn 06 kỳ hụi chết đến mãn hụi, số tiền 18.000.000 đồng và đồng ý trả.

Đối với kỳ hụi chết theo nguyên đơn đặt ra bị đơn vi phạm nghĩa vụ tại kỳ thứ 22 ngày 26/02/2025âl là chưa đúng. Kỳ đóng hụi này bị đơn đã chuyển tiên đóng hụi, số tiền 16.000.000 đồng vào ngày 12/02/2025 (nhầm ngày 15/01/2025 âl). Trong đó đóng hụi cho mẹ của bị đơn số tiền 10.000.000 đồng, đóng hụi cho 02 kỳ hụi chết của bị đơn là 6.000.000 đồng tại kỳ hụi ngày 26/12/2024 âl và kỳ ngày 11/01/2025âl. Còn lại 03 kỳ ngày 26/01/2025âl, kỳ 11/02/2025âl và kỳ 26/02/2025âl đã đóng đủ số tiền 9.000.000 đồng bằng tiền mặt. Phía nguyên đơn có đưa biên nhận đóng hụi cho bị đơn nhưng ghi không đúng các kỳ này xảy ra tranh chấp.

Từ nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kiều H. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Mỹ H1 trả cho bà H, số tiền 21.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/8/2025, ông T bà H1 kháng cáo cho rằng ông bà chỉ còn 6 kỳ hụi chết bằng 18.000.000đ, không đồng ý trả 21.000.000đ như yêu cầu của bà H.

Ngày 13/8/2025, bà H kháng cáo yêu cầu ông T bà H1 hoàn trả thêm khoản tiên lãi là 300.000đ/tháng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ mới. Ông N1 cho rằng giấy nhận tiền của bà H ghi sai ngày đóng hụi và ngày nhận là ngày 26/2 tức là ngày 26/2 đã đóng tiền rồi nên còn nợ 6 kỳ bằng 18.000.000đ. Bà H thừa nhận ghi sai nhưng ngày sai là 11/2 nên còn 7 kỳ hụi chết bằng 21.000.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung, hai chứng cứ mà bị đơn cung cấp chưa đủ cơ sở xác định mình đóng 7 kỳ hụi chết, mà chỉ chứng minh đóng được 6 kỳ, còn kháng cáo của bà H yêu cầu lãi nhưng tại đơn khởi kiện bà không có yêu cầu này nên đây là vượt quá yêu cầu khởi kiện. Nên kiến nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của cả nguyên đơn lẫn bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 29/7/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo được bà H, bà H1, ông T thực hiện đúng quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật TTDS, HĐXX sẽ xem xét kháng cáo của ông, bà theo quy định. Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hụi nên cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điều 26, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của bà H: Việc bà yêu cầu tính lãi là quyền lợi chính đáng của bà, tuy nhiên theo đơn khởi kiện của bà (BL 07), thông báo thụ lý vụ án của Tòa án (BL 21) cũng như quá trình chuẩn bị xét xử khi hòa giải (BL 31) cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bà không đặt ra yêu cầu tính lãi, qua đó án sơ thẩm cũng không xét xử yêu cầu tính lãi của bà, nên theo quy định tại điều 293 BLTTDS về phạm vi xét xử phúc thẩm, thì yêu cầu kháng cáo của bà là không phù hợp nên HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà.

[3] Xét kháng cáo của ông T bà H1, ông bà là vợ chồng lại có cùng kháng cáo nên HĐXX xét kháng cáo của ông bà cùng thời điểm. Căn cứ ông, bà kháng cáo là biên nhận ngày 26/02/2025 âl (BL 32) do bà H viết cho ông, bà, trong biên nhận bà H viết từ trên xuống (ngày 11/1/2025 3000, ngày 26/1/2025 3000 và ngày 11/1/2025 3000, tổng là 9000 gom tiền ngày 26/02) trong ba ngày này có trùng lấp ngày 11/1/2025 hai lần, lý giải cho việc trùng lấp này bà H cho rằng ngày 11/1/2025 phía dưới là 11/2/2025 nhưng không ảnh hưởng đến số tiền vợ chồng ông T nộp, đối chiếu các ngày nộp tiền này với các ngày khi hụi trong tháng thì lời trình bày của bà H là có cơ sở, bởi ngày khu hụi là 11 và 26 hàng tháng, cho nên ngày 11/1/2025 ở dưới là ngày 11/2/2025, theo nội dung biên nhận này vợ chồng ông T nộp tiền hụi cho ba ngày cụ thể là 11/1, 26/1 và 11/2/2025. Như vậy ngày 26/2/2025 đến mãn hụi là 7 kỳ hụi chết bằng 21.000.000đ chưa nộp, nên kháng cáo của ông T bà H1 không có sở chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu kiến nghị không chấp kháng cáo của bà H, ông T bà H1 là phù hợp với nhận định của HĐXX.

[4] Án phí phúc thẩm bà H, ông T bà H1 phải chịu theo quy định tại điều 148 Bộ luật TTDS.

[5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ Luật TTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Kiều H, ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Mỹ H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 29/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau. Tuyên Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Kiều H. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Mỹ H1 trả cho bà H, số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng).

    Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T và bà H1 không thi hành xong khoản tiền trên, thì ông bà còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

  2. Về án phí dân sự:

    Án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị Mỹ H1 phải chịu 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Bà Lê Kiều H được nhận lại số tiền 525.000 đồng theo lai thu số 0005706 ngày 30/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sư huyện Trần Văn Thời (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Cà Mau).

    Án phí phúc thẩm: Bà H phải chịu chịu 300.000đ; Ông T bà H1 phải chịu 300.000đ. Ngày 18/8/2025 bà H đã nộp số tiền 300.000đ, ngày 14/8/2025 ông T bà H1 đã nộp 600.000đ tại các lai thu số 0011646 và 0011620 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu, ông T bà H được hoàn lại 300.000đ.

  3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân KV 3;
  • - Phòng THADS KV 3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ninh Quang Thế

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 497/2025/DS-PT ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 497/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger