TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày 16-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Phong
- Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát - Thư ký viên TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Là - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở, TAND khu vực 9, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Ngọc A, sinh ngày 28/4/1993; Căn cước công dân số 036093016200, nơi cấp Cục cảnh sát QLHC.
Nơi thường trú, nơi ở hiện nay: Xóm A Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lương Ngọc T, sinh năm 1970; Con bà: Đinh Thị T1, sinh năm 1970; Anh chị em: Không; Vợ/con: Không. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 14/11/2014, Công an phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản".
- Bản án số 01/2017/HSST ngày 09/01/2017, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 27/4/2021 chấp hành xong.
- Ngày 11/11/2025 Công an xã N, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2025, đến ngày 07/9/2025 chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà: Đinh Thị T1, sinh năm 1970
Nơi thường trú: Xóm A Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (Có mặt) - Anh: Đinh Viết C, sinh năm 1988
Nơi thường trú: Xóm B Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt)
- Người chứng kiến:
- Anh Lưu Doãn T2, sinh năm 1992; Nơi thường trú: Xóm A Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).
- Anh Đinh Nguyên H, sinh năm 1970; Nơi thường trú: Xóm B Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 30/8/2025, Lương Ngọc A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATTILA, màu vàng biển kiểm soát 18N1-1574 từ nhà ở xóm A Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình đến nhà Đinh Viết C, sinh năm 1988, trú tại xóm B, Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình mua H để sử dụng. Khi đến, thấy cổng nhà C khóa, Lương Ngọc A để xe mô tô bên ngoài rồi trèo cổng vào gặp C hỏi mua 100.000 đồng Heroine và hẹn C trưa về gửi tiền, C đồng ý. Sau đó C lấy ở trong người ra đưa cho Lương Ngọc A 01 gói Heroine được gói bên ngoài là giấy màu trắng. Lương Ngọc A cầm gói H1 vừa mua cầm ở lòng bàn tay phải rồi đi xe mô tô tìm chỗ sử dụng. Khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, khi Lương Ngọc A đi đến trước cửa nhà ở xóm A Đ, xã N, tỉnh Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an xã N kiểm tra hành chính, phát hiện, thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu là “M”; đồng thời thu giữ niêm phong mẫu nước tiểu của Lương Ngọc A, ký hiệu “T”. 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu vàng, biển kiểm soát 18N1-1574.
Tại bản kết luận giám định số 810/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,103 gam.
Tại bản kết luận giám định số 811/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm Morphine, C1 và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu của Lương Ngọc A được niêm phong ký hiệu T gửi giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-KV9 ngày 21/11/2025. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số PS3 24298341 của phòng K Công an tỉnh N, mặt trước có ghi số 810/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định.
- + Trả lại bà Đinh Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu vàng, biển số 18N1-1574, số máy D-018724, số khung D-018724 đã qua sử dụng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 6, điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Ngọc A tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 6 giờ 40 phút ngày 30 tháng 8 năm 2025, Lương Ngọc A (không thuộc trường hợp nào trong thời hạn đang cai nghiện ma túy) có hành vi cất giấu trái phép 0,103 gam Heroin trong người mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã N, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, Cáo trạng số 20/CT-VKS-KV9 ngày 21/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Ninh Bình truy tố bị cáo Lương Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực nhận thức điều khiển hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, nên HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Trên cơ sở xem xét cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; bản thân bị cáo đã vi phạm pháp luật, có nhân thân xấu nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để nâng cao biện pháp giáo dục, răn đe bị cáo để lao động, cải tạo thành người có ích cho xã hội, đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma tuý mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định trong bì thư niêm phong mã số PS3 24298341, mặt trước có ghi số 810/KL-KTHS ngày 05/9/2025 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu vàng, biển kiểm soát 18N1-1574, số máy D-018724, số khung D-018724 là của bà Đinh Thị T1, việc Lương Ngọc A sử dụng chiếc xe mô tô trên bà T1 không biết. Do đó cần tuyên trả lại cho bà Đinh Thị T1 theo quy định của pháp luật.
[8] Các vấn đề khác:
Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N xác minh làm rõ ngày 29/8/2025 Lương Ngọc A đã sử dụng H1 tại nhà của mình. Tuy nhiên hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lương Ngọc A không thuộc trường hợp nào trong thời hạn đang cai nghiện ma túy nên không đặt vấn đề xử lý hình sự về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Công an xã N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37/QĐ-VPHC ngày 11/11/2025 bằng hình thức “Cảnh cáo” đối cới Lương Ngọc A là phù hợp với quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Lương Ngọc A khai nhận ngày 30/8/2025 đã mua Heroin của Đinh Viết C. Đinh Viết C không thừa nhận việc bán H1 cho Lương Ngọc A. Cơ quan cảnh sát Điều tra đã tiến hành đối chất, nhận dạng giữa Anh và C nhưng C vẫn không thừa nhận nên không có căn cứ xử lý bằng pháp luật Hình sự đối với Đinh Viết C. HĐXX kiến nghị Cơ quan điều tra, Công an tỉnh N tiếp tục làm rõ hành vi của người bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);
Xử phạt Lương Ngọc A 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2025. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong có mã số mã số PS3 24298341, mặt trước có ghi số 810/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng KTHS - Công an tỉnh N.
T3 trả bà Đinh Thị T1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ATTILA màu vàng, biển kiểm soát 18N1-1574, số máy D-018724, số khung D-018724 mang tên Lê Thị Cẩm V.
(Chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18/PTHADSKV9 ngày 21/11/2025 giữa CQCSĐT Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Ninh Bình). - Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N tiếp tục làm rõ hành vi của người bán ma túy cho bị cáo Lương Ngọc A để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lương Ngọc A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Lương Ngọc A, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Ngọc A - Tàng trữ ma tuý
