|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HS-ST Ngày 30-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Huân
- Bà Nguyễn Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4– Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Ninh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/9/2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Bùi Văn H, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không có; nơi thường trú: Thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn S, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; bị cáo có vợ là Hoàng Thị L, sinh năm 1999; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023.
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2015/HSST ngày 05/02/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Bùi Văn H 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 48 tháng tù, hời hạn tù tính từ ngày 02/10/2014 và chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 02/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/4/2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh B. Có mặt.
- Họ và tên: Bàn Quốc A, sinh năm 2003; tên gọi khác: Không; nơi thường trú: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bàn Văn C, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh B. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
- Chị Ngô Như Q, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn T, xã V, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn T, xã V, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Ông Bùi Văn S, sinh năm 1961. Địa chỉ: Thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
- Ngân hàng TMCP V (V1). Địa chỉ: Số H L. phường Đ, Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Vũ Lưu M – Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: G D, Cầu G, Hà Nội. Người đại diện theo ủy: Ông Nguyễn Chí T1, chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Thế T2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Như Đ1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 53 phút, ngày 01/06/2025, tại thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh), Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh B) phối hợp cùng Công an xã L, tỉnh Bắc Giang (nay là Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh) kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đối tượng Bàn Quốc A, sinh năm 2003 nơi thường trú thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh) đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại quán K, quá trình bắt quả tang Bàn Quốc A có thả từ bàn tay phải xuống nền nhà ngay tại vị trí Anh bị bắt 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) nghi là chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại nền nhà ngay tại vị trí Bàn Quốc A bị bắt 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) bên trong đựng: 01 (một) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 02 (hai) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh (nghi là ma túy), toàn bộ được niêm phong vào trong phong bì dán kín, ký hiệu “QT”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x 5G, màu trắng, lắp sim số 0819.912.122 được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “ĐT ANH” và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn trắng, biển số 98B3-572.28.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bàn Quốc A tại thôn Đ, xã L và thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Đấu tranh tại chỗ Bàn Quốc A khai mua số ma túy kể trên của Bùi Văn H, sinh năm 1994 ở thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh). Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, có viền màu đỏ bên trong đựng 02 (hai) viên nén màu xanh và 01 (một) túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa, có viền màu đỏ bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì dán kín ký hiệu “KX HÙNG”; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, màu sơn đỏ, biển số 98A-431.39, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 3541029, 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Bùi Văn H, 01 (một) giấy biên nhận thế chấp số 02/2025-BVH mang tên Bùi Văn H; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 15 PRO MAX màu trắng, lắp sim số 0968.071.223 và 01 (một) điện thoại di động IPHONE 7 màu ghi, lắp sim số 0866.688.123 được niêm phong trong phong bì thư dán kín, ký hiệu “ĐT HÙNG”.
Số vật chứng thu giữ nghi là ma túy, Cơ quan điều tra đã niêm phong gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định số 1091/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh B), kết luận:
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong, gửi giám định, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn), bên trong đựng 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ:
- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ đều là ma túy, loại Ketamine, tổng khối lượng 1,169 gam.
- 02 (hai) viên nén hình tròn, màu xanh đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 0,730 gam.
- Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KX H” được niêm phong, gửi giám định, bên trong có 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ:
- Chất tinh thể màu trắng được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,549 gam.
- 02 (hai) viên nén hình tròn, màu xanh đều là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 0,765 gam (BL 68-69).
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 04 năm 2025, Bùi Văn H có mua 3.000.000 đồng tiền ma túy, số ma túy này được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa bên trong có đựng 03 (ba) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa có chứa ma túy ke (Ketamine) và 04 (bốn) viên nén màu xanh ma túy kẹo (MDMA) của người tên H1 nhà ở phường C, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (Nay là phường C, tỉnh Bắc Ninh), mang về nhà cất giấu mục đích để bản thân vừa sử dụng vừa bán kiếm lời. Do biết Bàn Quốc A có mở quán Karaoke nên H đã đặt vấn đề với Anh nếu có ai mua ma túy kẹo, ma túy ke thì liên hệ H thì A đồng ý. H và Anh thỏa thuận thống nhất giá bán là 700.000 đồng/ 01 chỉ ma túy ke (nếu Anh đi lấy ma túy) và 750.000 đồng/ 01 chỉ ma túy ke (nếu H síp ma túy cho A) và 350.000 đồng/01 viên ma túy kẹo, thỏa thuận tiền có thể trả trước hoặc trả sau.
Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 01/06/2025, Phạm Văn Đ, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Nay là thôn T, xã T, tỉnh Bắc Ninh) sử dụng ứng dụng Mesenger tài khoản có tên “Đoàn Khói” gọi điện cho Quốc A tài khoản có tên “Quốc A” hỏi mua 02 (hai) viên ma túy kẹo và 02 (hai) chỉ ma túy ke thì Quốc A đồng ý. Đồng thời hai người thoả thuận giá bán ma túy kẹo và ma túy ke là 2.500.000 đồng. Sau đó Phạm Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn trắng, biển số 98B3-572.28 chở Phạm Thế T2, sinh năm 2002, trú tại thôn A, xã T, tỉnh Bắc Ninh cùng đi đến quán K2 tại thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh (khi đi Đ không nói cho T2 biết việc đi mua ma túy). Khoảng 10 phút sau, Đ, T2 đến quán của Quốc A thì thấy có một mình Quốc A ở quán. Tại đây Quốc A, Đ và T2 ngồi uống nước chơi game Liên quân mobile với nhau. Khoảng 17 giờ 50 phút, Anh đi ra ngoài quán sử dụng tài khoản zalo tên “Quốc A” gọi điện đến tài khoản zalo tên “Nhật Hùng” của Bùi Văn H bảo với H “anh cầm cho hai chỉ hai viên” (ý là hai chỉ ma túy ke và hai viên ma túy kẹo), H đồng ý bán với giá 2.200.000 đồng. Quốc A đi vào trong quán tiếp tục ngồi chơi game với Đ và T2. H lấy 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 02 (hai) túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều đựng chất tinh thể màu trắng là ma túy ke và 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh là ma túy kẹo đút vào túi quần bên trái. H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, màu sơn đỏ, biển số 98A-431.39 đi làm và giao ma túy. Trước khi đi H khai sử dụng zalo gọi cho A hẹn giao ma túy tại cầu T thuộc thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh thì A đồng ý. Sau đó, A hỏi mượn xe mô tô biển số 98B3-572.28 của Đ đi lấy ma túy. Khi A đi đến khu vực cầu T thì thấy H đang đứng ở rìa đường đợi, A đi đến chỗ H, H có đưa cho Anh 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn), bên trong đựng ma tuý ke và ma túy kẹo như đã thoả thuận. Quốc A cầm gói ma túy H đưa cho đi về quán karaoke E (A chưa trả tiền mua ma túy cho H). Về đến quán A1 tiếp tục ngồi chơi game với Đ và T2. Quá trình ngồi chơi game, Anh có nhiều lần bảo Đ đưa trả tiền mua ma
túy thì Anh mới đưa ma túy cho Đ, nhưng do Đ không đủ tiền nên A đã không đưa ma túy cho Đ. Khi Anh đang cầm gói ma túy ở trong lòng bàn tay phải thì lực lượng Công an vào kiểm tra Anh thả từ trong lòng bàn tay phải 01 (một) gói giấy màu trắng (loại giấy ăn) bên trong đựng ma túy xuống nền nhà. Cơ quan điều tra đã bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên. Căn cứ lời khai của Bàn Quốc A, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn H thu giữ ma túy kẹo, ma túy ke và vật chứng khác. Ngày 02/6/2025, Bùi Văn H đã xin đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Bàn Quốc A nhận dạng qua bản ảnh người bán ma túy cho mình vào ngày 01/6/2025. Kết quả Anh nhận dạng được Bùi Văn H, sinh năm 1994, ở thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Cơ quan Cảnh sát điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x 5G, màu trắng, lắp sim số 0819.912.122 thu giữ của Bàn Quốc A. Kết quả tại mục Zalo phần cuộc gọi phát sinh 01 cuộc gọi với tài khoản zalo tên “Nhật Hùng” của Bùi Văn H; tại mục tin nhắn M1 phát sinh tin nhắn với tài khoản “Đoàn khói” của Phạm Văn Đ.
Cơ quan điều tra đã kiểm tra việc sử dụng ma túy đối với Phạm Văn Đ, Phạm Thế T2, Bùi Văn H, Bàn Quốc A. Kết quả Đ, T2, H, Anh âm tính với ma túy.
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 12 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Bùi Văn H, Bàn Quốc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.
Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng
.
Qua thẩm vấn tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
Về hình phạt:
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/6/2025. Phạt bổ sung bị cáo H từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bàn Quốc A từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/6/2025. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo A.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, Hội đồng xét xử thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm tố tụng.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án là đảm bảo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Văn H, Bàn Quốc A một lần nữa đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 01/6/2025, tại cầu T thuộc thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh, Bùi Văn H có hành vi bán trái phép 1,169 gam ma túy, loại Ketamine và 0,730 gam ma túy, loại MDMA cho Bàn Quốc A với giá 2.200.000 đồng. Mục đích Bàn Quốc A mua số ma túy trên để mang về quán K2 tại thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh bán lại cho Phạm Văn Đ với số tiền 2.500.000 đồng mục đích để kiếm lời thì bị Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an xã L, tỉnh Bắc Ninh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Ngoài ra Bùi Văn H có hành vi tàng trữ 0,549 gam ma túy loại Ketamine và 0,765 gam ma túy, loại MDMA, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn H và Bàn Quốc A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Bắc Ninh truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo H là người đặt vấn đề bán ma túy cho bị cáo A và cũng là người tàng trữ ma túy với mục đích bán kiếm lời nên bị cáo H có vai trò thứ nhất sau đó đến bị cáo A. Do vậy, cần có hình phạt phù hợp với tính chất hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo.
[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân, tiền án, tiền sự:
Bị cáo Bùi Văn H là người có nhân thân xấu, ngày 05/02/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Bùi Văn H 36 tháng tù về tội “Cưỡng dâm” và 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2014 và chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 02/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/4/2015. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo Bàn Quốc A là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H sau khi phạm tội đã đầu thú nên được được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy, mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo H có mục đích bán ma túy để kiếm lời, gia đình không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung ở mức khởi điểm quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo A là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định là chất cấm lưu hành do vậy cần phải tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x 5G, màu trắng, lắp sim số 0819.912.122 của bị cáo A và 01 (một) điện thoại di động IPHONE 7 màu ghi, lắp sim số 0866.688.123 của bị cáo H, các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, màu sơn đỏ, biển số 98A-431.39 (kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 3541029 mang tên Bùi Văn H) là phương tiện bị cáo H đi mua bán ma túy. Tuy nhiên, chiếc xe này là tài sản chung của bị cáo H và chị Hoàng Thị L. Hiện bị cáo H và chị L đang thế chấp chiếc xe này tại Ngân hàng TMCP V (theo hợp đồng thế chấp ngày số 02/2025-BVH ngày 26/02/2025) để đảm bảo cho khoản vay của bị cáo H và chị L tại Ngân hàng nên cần giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 4- Bắc Ninh phối hợp với ngân hàng V1 xử lý bán đấu giá tài sản để ngân hàng V1 thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Bùi Văn H; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 15 PRO MAX màu trắng, lắp sim số 0968.071.223 là tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo H, nhưng cần tạm giữ điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với người bán ma túy và người giao ma túy cho H vào khoảng tháng 4/2025. Quá trình điều tra H khai người bán ma túy tên H1, khoảng 25 tuổi, ở Phường C, tỉnh Bắc Ninh; người phụ nữ giao ma túy đeo khẩu trang không biết ai, ngoài ra không biết thông tin gì khác. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người tên H1 và người phụ nữ giao ma túy. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Đối với Phạm Văn Đ là người hỏi mua ma túy của Bàn Quốc A ngày 01/6/2025 mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra xác định Đ chưa đưa (chuyển) tiền cho A, chưa nhận ma túy từ A, tại thời điểm bắt quả tang Đ cũng không có tiền nên tự ý chấm dứt hành vi phạm tội, do đó hành vi của Đ là chuẩn bị phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 14 Bộ luật hình sự quy định về chuẩn bị phạm tội thì Đ không phải chịu trách nhiệm về nhóm tội phạm về ma túy. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn trắng, biển số 98B3-572.28 của Phạm Văn Đ sử dụng đến nhà Bàn Quốc A để mua ma túy ngày 01/6/2025. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên là của chị Ngô Như Q (vợ Đ), chị Q không biết Đ sử dụng xe mô tô để đi tìm mua ma túy. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Q, đồng thời trả lại chị Q chiếc xe mô tô trên là phù hợp.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo A là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/6/2025. Phạt bổ sung bị cáo H 5.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bàn Quốc A 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/6/2025.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì thư ký hiệu “QT”, “KX H” bên trong chứa mẫu vật được niêm phong bằng hình dấu của Phòng K1- Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3x 5G, màu trắng, lắp sim số 0819.912.122 được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu “ĐT ANH 1"; 01 (một) điện thoại di động IPHONE 7 màu ghi, lắp sim số 0866.688.123 được niêm phong trong phong bì thư dán kín, ký hiệu “ĐT HÙNG 1".
- Giao 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, màu sơn đỏ, biển số 98A- 431.39 (xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong xe), kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DB 3541029 mang tên Bùi Văn H cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 4- Bắc Ninh phối hợp với ngân hàng V (Viết tắt là V1) xử lý bán đấu giá tài sản để ngân hàng V1 thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (theo hợp đồng thế chấp số 02/2025-BVH ngày 26/02/2025).
- Trả lại bị cáo Bùi Văn H: 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Bùi Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 15 PRO MAX màu trắng, lắp sim số 0968.071.223, nhưng cần tạm giữ điện thoại di động để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2025 giữa Công an tỉnh B và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4- Bắc Ninh).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Bàn Quốc A được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Dung |
Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 49/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Hùng, Bàn Quốc Anh phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
