Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 15 – AN GIANG

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 49/2025/HS-ST

Ngày 29 tháng 9 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG

Tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang (Cơ sở chính):

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Ức và bà Nguyễn Thị Lệ.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Khang - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần, P trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh A:

  • - Ông Huỳnh Minh N, là Thẩm phán Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang.
  • - Ông Huỳnh Hoài T, là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang (Cơ sở chính) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1996, tại T, An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ F, ấp A, xã V, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 18/3/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang), tỉnh An Giang xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt phạt tù ngày 04/8/2024; tiền sự: Ngày 30/3/2018, bị Công an thị xã T cũ xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt); bị bắt, tạm giam từ ngày 23/6/2025 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Lâm Thành V, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp A, xã V, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Bà Nguyễn Thị Mỹ P1, sinh năm 1998; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện H (nay là xã T), tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp A, xã V, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Khương Ngọc S; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 22/6/2025, Nguyễn Văn Đ thấy ghe tạp hóa của Lâm Thành V đậu ở bến sông gần nhà Đ, ấp A, xã V, thị xã T (nay là xã V), tỉnh An Giang. V đang ngủ trên ghe, xung quanh không có người. Đựng liền bơi đến, lén lấy thùng đựng tiền bằng nhựa màu trắng của V để trên ghe, đem đến khu đất trống cách đó khoảng 100m, kiểm đếm tiền trong thùng được 5.900.000 đồng. Đựng sử dụng số tiền này cho Nguyễn Thị Mỹ P1 (em ruột Đ) 2.000.000 đồng, mua card điện thoại của Nguyễn Thị Ngọc G 600.000 đồng, tiêu xài 80.000 đồng. Còn lại 3.220.000 đồng, Đ cất giấu trong người. Cùng ngày, phát hiện mất trộm, V trình báo Công an. Khi được triệu tập làm việc, Đ thừa nhận thực hiện hành vi nêu trên, giao nộp số tiền lấy trộm còn lại. P1 và G khai, không biết tiền Đ cho và mua card điện thoại do phạm tội mà có và cả hai đã hoàn trả lại cho V toàn bộ số tiền đã nhận từ Đ.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Thu giữ do Nguyễn Văn Đ giao nộp 3.220.000 đồng, đã trao trả cho bị hại Lâm Thành V.

Ngày 23/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố Nguyễn Văn Đ để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSTC ngày 10 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Về hình phạt, bị cáo xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
  • - Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng do bị cáo không nghề nghiệp, hoàn cảnh khó khăn. Về trách nhiệm dân sự, do bị hại, bà G không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị không đề cập giải quyết. Về xử lý vật chứng, đề nghị không đề cập đến do tài sản đã được giao trả cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – An Giang, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận, khoảng 13 giờ ngày 22/6/2025, bị cáo phát hiện ghe tạp hóa của ông Lâm Thành V đang neo đậu tại bến sông gần nhà của bị cáo nên lén lút chiếm đoạt số tiền 5.900.000 đồng của ông V được để trong thùng đựng tiền bằng nhựa màu trắng trên ghe. Sau đó, bị cáo cho Nguyễn Thị Mỹ P1 2.000.000 đồng, mua card điện thoại của Nguyễn Thị Ngọc G 600.000 đồng, tiêu xài 80.000 đồng; còn lại 3.220.000 đồng cất giấu trong người. Đến khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, khi bị lực lượng Công an triệu tập làm việc, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, giao nộp 3.220.000 đồng còn lại.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông V trị giá 5.900.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu cũ xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào ngày 18/3/2019; chấp hành xong hình phạt phạt tù ngày 04/8/2024. Về nhân thân, bị cáo có nhân thân không tốt. Bởi vì, ngoài tiền án, bị cáo còn đang có tiền sự do bị Công an thị xã T cũ xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 30/3/2018 (chưa nộp phạt). Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không nghề nghiệp, thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm của người có liên quan đến vụ án, bị cáo đã sử dụng tiền do phạm tội mà có cho bà Nguyễn Thị Mỹ P1 2.000.000 đồng, trả tiền mua card điện thoại cho bà Nguyễn Thị Ngọc G 600.000 đồng. Do bà P1, bà M không biết tiền nhận từ bị cáo là tài sản do phạm tội mà có và đã nộp lại các khoản tiền đã nhận. Cho nên, trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với bà P1, bà M là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra giao trả lại cho ông Lâm Thành V 5.820.000 đồng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

[8] Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại số tiền 5.820.000 đồng bị chiếm đoạt, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 80.000 đồng bị chiếm đoạt còn lại. Sau khi giao nộp lại số tiền 600.000 đồng, bà G không yêu cầu đối với bị cáo. Cho nên, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt, tạm giam, ngày 23/6/2025 (ngày hai mươi ba, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm).

  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lâm Thành V, bà Nguyễn Thị Mỹ P1, bà Nguyễn Thị Ngọc G là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 15 – An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Phân Trại tạm giam khu vực T thuộc Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh A;
  • - CQĐT Công an tỉnh An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 15 – An Giang;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Chí Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 49/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 49/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – AN GIANG, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 15 – An Giang, tỉnh An Giang đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger