TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 488/2025/DS-ST
Ngày: 30/09/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
- - Các hội thẩm nhân dân : Ông Hoàng Minh Trinh
- Ông Nguyễn Xuân Tùng
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu.
Ngày 30/09/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 410/2025/TLST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V; Địa chỉ: H L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T, ông Nguyễn Văn C, ông Trương Văn L, ông Lê Tài T1, ông Đỗ Thành Đ, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn L1, bà Võ Thị Thủy T2, bà Lê Thị Thảo N. Địa chỉ liên hệ: Tầng D, A P, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- - Bị đơn: Bà Ngô Thị Bé D1, sinh năm 1989; Địa chỉ: K N, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10/6/2022, bà Ngô Thị Bé D1 ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần V (Sau đây gọi là Ngân hàng) Giấy đăng ký kiêm hợp đồng vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1. Căn cứ vào thu nhập của bà D1, Ngân hàng đã đồng ý cho bà D1 vay số tiền 199.500.000 đồng. Mục đích vay: Vay tiêu dùng cá nhân. Thời hạn vay: 60 tháng. Lãi suất trong hạn tại thời điểm phát vay: 32%/năm. Lãi suất quá hạn: 48%/năm. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Ngô Thị Bé D1 đã trả cho V1 số tiền 60.477.237 đồng (Trong đó, nợ gốc là 14.045.339 đồng và nợ lãi là 46.431.898 đồng). Từ ngày 13/04/2023, bà D1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 30/09/2025, dư nợ của bà Ngô Thị Bé D1 theo Hợp đồng số LD2216401527 ngày 10/06/2022 là 371.918.954 đồng (Trong đó nợ gốc là 185.454.661 đồng; nợ lãi trong hạn là 5.175.451 đồng; nợ lãi quá hạn là 181.288.842 đồng).
Ngày 22/9/2022, bà Ngô Thị Bé D1 tiếp tục ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1. Căn cứ vào thu nhập của bà D1, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 45.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, với mức lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 3.29%/tháng, loại thẻ Visa Super Shopee Platinum Credit. Trong quá trình sử dụng thẻ, bà D1 đã thực hiện tổng cộng 16 giao dịch. Do bà Ngô Thị Bé D1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 12/03/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà D1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 30/09/2025 số tiền nợ thẻ của bà D1 là 117.179.264 đồng (Trong đó nợ gốc thẻ là 44.879.422 đồng, số tiền nợ lãi thẻ là 72.299.842 đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện về mặt thời gian để thanh toán nợ, tuy nhiên, bà Ngô Thị Bé D1 vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Ngô Thị Bé D1 trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền của 02 hợp đồng tính đến ngày 30/09/2025 là: 489.098.218 đồng (bằng chữ: Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó (Nợ gốc: 230.334.083 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.175.451 đồng và nợ lãi quá hạn: 253.588.684 đồng); Buộc bà D1 phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn để cung cấp bản khai và tham gia phiên hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bà Ngô Thị Bé D1 vắng mặt không có lý do và không gửi bản khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng phát biểu:
Đối với thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự trong vụ án đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn bà Ngô Thị Bé D1 vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần hai, do đó bị đơn đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72,73 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật.
Đối với nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn trả nợ vay cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP V có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Ngô Thị Bé D1 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung tranh chấp: HĐXX xét thấy, bà Ngô Thị Bé D1 có ký với Ngân hàng TMCP V 02 Hợp đồng như sau:
- Hợp đồng 01: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng Đ1 (LD2216401527 ngày 10/6/2022. Số tiền vay: 199.500.000 đồng. Mục đích vay: Vay tiêu dùng cá nhân. Thời hạn vay: 60 tháng. Lãi suất trong hạn tại thời điểm phát vay: 32%/năm. Lãi suất quá hạn: 48%/năm.
- Hợp đồng 02: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1 ngày 22/9/2022. Hạn mức tín dụng 45.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, với mức lãi suất tại thời điểm mở thẻ là 3.29%/tháng, loại thẻ Visa Super Shopee Platinum Credit.
Các hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên là hợp pháp, thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ thực hiện.
Quá trình thực hiện các hợp đồng, bà Ngô Thị Bé D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Do đó, căn cứ căn cứ các Điều 463, 466 BLDS năm 2015, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V, buộc bà D1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/09/2025 là 489.098.218 đồng (bằng chữ: Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó (Nợ gốc: 230.334.083 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.175.451 đồng và nợ lãi quá hạn: 253.588.684 đồng).
Bà Ngô Thị Bé D1 phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP V theo lãi suất quá hạn được quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
[3] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, là 23.563.929 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn chín trăm hai mươi chín đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 351, 401, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các Điều 30, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227, 228, 235, 238, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 90, 91, 94, 95 và 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của nguyên đơn là Ngân hàng V đối với bị đơn là bà Ngô Thị Bé D1.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 23.563.929 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm sáu mươi ba ngàn chín trăm hai mươi chín đồng) bà Ngô Thị Bé D1 phải chịu.
- Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.
Xử: Buộc bà Ngô Thị Bé D1 phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền là 489.098.218 đồng (bằng chữ: Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó (Nợ gốc: 230.334.083 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.175.451 đồng và nợ lãi quá hạn: 253.588.684 đồng).
Bà Ngô Thị Bé D1 phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí là 10.773.698 đồng (Mười triệu bảy trăm bảy mươi ba ngàn sáu trăm chín mươi tám đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005693 ngày 23/06/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đà Nẵng).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trần Thanh Thủy |
Bản án số 488/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 488/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của nguyên đơn là Ngân hàng V đối với bị đơn là bà Ngô Thị Bé D. Xử: Buộc bà Ngô Thị Bé D phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền là 489.098.218 đồng (bằng chữ: Bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng), trong đó (Nợ gốc: 230.334.083 đồng, nợ lãi trong hạn: 5.175.451 đồng và nợ lãi quá hạn: 253.588.684 đồng).
