Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48 /2025/HS-ST;

Ngày 26/11/2025;

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Lý;

Bà Nguyễn Thị Mai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lân, Thư ký, Toà án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Ngô Quang Khả - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Mạnh T sinh ngày 14 tháng 12 năm 1994 tại xã P, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn B, xã P, thành phố Hà Nội; CCCD số [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968, con bà Lý Thị X, sinh năm 1968 (đã chết); Vợ, Hoàng Thị H, sinh năm 1996, con: 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo bản án số 21/2017/HSST ngày 26/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù, ngày 09/10/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: 30/7/2025 tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. D chỉ bản số 4040 do Công an thành phố H lập 03/9/2025. Có mặt.

2. Đỗ Trung N, sinh ngày 08 tháng 03 năm 1998 tại xã P, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn H, xã P, thành phố Hà Nội; CCCD số [...], do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 10/5/2021; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Đỗ Văn C, sinh năm 1972, con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: 30/7/2025 tại Trại tạm giam số 1, Công an thành phố H. D chỉ bản số 4153 do Công an thành phố H lập 09/9/2025. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 25/07/2025 Đỗ Trung N (Sinh năm 1998; trú tại thôn H, xã P, thành phố Hà Nội) một mình điều khiển xe mô tô BKS: 29T1 - 907.60 đến nhà Nguyễn Mạnh T (Sinh năm 1994; trú tại thôn B, xã P, thành phố Hà Nội) để chơi và uống nước. Tại đây T có hỏi vay Nguyên 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để đi mua xà phòng giặt thì N đồng ý, N đưa cho T 100.000đ (một trăm nghìn đồng) tiền mặt và đợi T đi mua xà phòng về ngồi uống nước và nói chuyện. Tưởng hẹn N đến tối sẽ trả tiền cho N, N nói bây giờ em đi đá bóng và uống rượu có gì tối về thì tính. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi N đi chơi về nhà thì N sử dụng tài khoản zalo của mình có tên “Đỗ Trung N” gọi đến tài khoản zalo của T có tên “Nguyễn Mạnh T”, T nghe máy, N nói “có gì không anh” có nghĩa là có ma túy để sử dụng không thì T trả lời có và bảo N chuyển khoản cho T số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để đi mua ma túy. Nguyên chuyển khoản cho T số tiền 150.000₫ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) từ tài khoản 19037413291013 ngân hàng T6 của N sang STK: 979113987 ngân hàng VIB của T và bảo T lấy 100.000đ (một trăm nghìn đồng) mà T đã nợ N trước đó để mua ma túy. Tưởng đồng ý và hẹn N lên khu vực đê Đ, thôn B, xã P để sử dụng ma túy. Sau đó, T sử dụng điện thoại qua phần mềm zalo của T để liên lạc với Kiều Văn T1 (Sinh năm 1993; trú tại xã K, thành phố Hà Nội) để mua ma túy tổng hợp dạng đá với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và xin T1 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, T1 đồng ý, T1 yêu cầu Tưởng trả nợ cho T1 số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) mà T đã nợ T1 tiền mua ma túy các lần trước đó và hẹn Tưởng đến đường đôi xã P để giao dịch ma túy. Tưởng sử dụng STK 979113987 của Tưởng tại ngân hàng V chuyển khoản đến STK 0363959993 của T1 tại ngân hàng M số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô mượn của bạn tên là T4 đến đường Đ thì gặp T1. Tại đây T đưa cho T1 số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền mặt để mua ma túy đã thỏa thuận giao dịch với T1 trước đó và nợ lại 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), Tưởng hỏi ma túy đâu thì T1 chỉ cho T2 đến bức tường ở gần đó để lấy và T1 đi đâu làm gì Tưởng không rõ. Tưởng đi đến bức tường nơi T1 chỉ thấy có 01 túi ni lông màu trắng thì Tưởng kiểm tra bên trong có chứa tinh thể màu trắng đúng là ma túy và 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy đá. Tưởng lên xe mô tô đi về nhà. Khoảng 5-7 phút sau T đi bộ lên khu vực đã hẹn N để sử dụng ma túy. Trên đường đi Tưởng nhặt 01 vỏ chai nhựa có chứa sẵn nước bên trong. Tại đây Tưởng cho ma túy vào trong bộ tẩu hút và vặn bộ tẩu hút vào chai nhựa, T dùng bật lửa đã chuẩn bị trước đó để hơ nóng ma túy trong bình tẩu. Tưởng sử dụng ma túy xong thì chuyển cho N hút cứ như vậy T và N thay nhau sử dụng ma túy, quá trình sử dụng thì T là người cầm bình tẩu tự chế và bật lửa để hơ nóng ma tuý cho T và N sử dụng. Sau khi hết ma túy trong bình tẩu thì N điều khiển xe mô tô đi về nhà còn T đi bộ về. Trên đường đi về Tưởng đã ném bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống sông T. Đến ngày 29/7/2025 Khi công an xã P gọi hỏi T3 nhanh thử chất ma túy đối với T và N thì T đã tự giác giao nộp 01 túi ni lông kích thước (2x3)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Theo T khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma túy tổng hợp dạng đá mà T đã mua của T1 trước đó khoảng 1 tuần với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để sử dụng và đã thanh toán cho T trong số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) mà T đã chuyển khoản cho T1 của các lần mua ma túy trước đó vào ngày mua ma túy để T và N sử dụng. Quá trình đã sử dụng 1 phần, phần còn lại đã cất giấu trong ốp điện thoại phía sau điện thoại. Công an xã P đã thu giữ và niêm phong tại chỗ.

Vật chứng thu giữ:

- Đối với Đỗ Trung N:

  • + 01 (một) Điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím bên trong lắp sim số 0375521998.
  • + 01 (một) Xe mô tô nhãn hiệu Honda SH; màu đen; BKS: 29T1-907.60.

- Đối với Nguyễn Mạnh T

  • + 01 (một) điện thoại thoại vivo màu xanh đen bên trong lắp sim số 0979113987.
  • + 01 (một) túi ni lông màu trắng có kích thước 2x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp dạng ma túy đá).

Kết quả giám định:

  • - Ngày 29/07/2025, Cơ quan CSĐT Công an T ra quyết định trưng cầu giám định: số 9786/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu giám định Phòng K Công an T đối với 01 (một) túi ni lông màu trắng có kích thước 2x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp dạng ma túy đá). Ngày 08/8/2025, Phòng K Công an T có bản kết luận giám định số 4615/KL-KTHS xác định Tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,106gam.
  • - Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy được lập ngày 29/7/2025 của Công an xã P, thành phố Hà Nội đối với Nguyễn Mạnh T và Đỗ Trung N thể hiện trong nước tiểu của hai đối tượng đều dương tính với ma túy.

Xử lý vật chứng:

Ngày 20/10/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại bà Nguyễn Thị L xe mô tô nhãn hiệu Honda SH; màu đen; BKS: 29T1-907.60.

Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về kết luận giám định và các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSKV10 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Đỗ Trung N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Mạnh T từ 42 - 48 tháng tù về tội :Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 30 -36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 72 – 84 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/7/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Đỗ Trung N từ 24 - 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/7/2025.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi ni lông màu trắng có kích thước 2x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (là ma túy tổng hợp dạng ma túy đá). Tịch thu 01 (một) điện thoại thoại vivo màu xanh đen bên trong lắp sim số 0979113987 thu giữ của Nguyễn Mạnh T va 01 (một) Điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím bên trong lắp sim số 0375521998 thu giữ của Đỗ Trung N.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận ngày 25/7/2025 bị cáo Đỗ Trung N rủ Nguyễn Mạnh T cùng nhau sử dụng ma túy, N đã đưa cho T 250.000 đồng để T đi mua ma túy về để cùng sử dụng. Sau khi mua được ma túy về thì N và T cùng nhau sử dụng ma túy. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau vàphù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 25/7/2025, Đỗ Trung N đã rủ Nguyễn Mạnh T cùng sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá thì T đồng ý. N đưa cho T 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) bao gồm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chuyển khoản và 100.000 đồng tiền Tưởng nợ N trước đó để T đi mua ma túy về cùng sử dụng. Sau đó, T liên hệ với đối tượng Kiều Văn T1 để mua 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma túy tổng hợp dạng đá và xin T1 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy. T1 đồng ý và hướng dẫn địa điểm giao nhận. Sau đó, T và N hẹn nhau cùng sử dụng ma túy tại đê Đ, thôn B, xã P, thành phố Hà Nội. Trên đường đi tới điểm hẹn, T nhặt thêm 01 vỏ chai nhựa có chứa sẵn nước bên trong để làm công cụ sử dụng ma túy. Tại khu vực đê Đ, N và T đã cùng nhau sử dụng ma túy, sau khi sử dụng xong Tưởng đã ném bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống sông T. Ngoài ra, vào ngày 29/7/2025 khi làm việc với cơ quan công an Tưởng tự nguyện giao nộp 01 túi ni lông bên trong chứa ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,106gam mà T đã mua của T1 trước đó khoảng 1 tuần. Tưởng mua với mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh T đã phạm vào tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của Đỗ Trung N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh và viện dẫn áp dụng điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước. xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng; xâm phạm đến sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân trực tiếp gây ra các loại tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cướp tài sản... để có tiền sử dụng ma túy, hoặc trong trường hợp người nghiện bị “ngáo đá”, ảo giác có thể gây ra các tội đặc biệt nghiêm trọng như hiếp dâm, giết người... nên cần xử lý nghiêm để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh T có một tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội (cũ) xử phạt 7 năm 6 tháng tù, đến thời điểm phạm tội bị cáo chưa được xóa án, vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đỗ Trung N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Mạnh T là người trực tiếp mua ma túy và chuẩn bị công cụ để tổ chức cho N sử dụng ma túy, phạm hai tội, bản thân bị cáo đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy. Vừa mới chấp hành xong hình phạt được một thời gian ngắn lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo.

Bị cáo Đỗ Trung N là người rủ T sử dụng ma túy, trực tiếp đưa tiền cho T đi mua ma túy về để cùng sử dụng. Tuy nhiên, bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tôi nên cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn Tưởng là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH; màu đen; BKS: 29T1-907.60, thu giữ của bị cáo Đỗ Trung N. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị L là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với 01 (một) Điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím bên trong lắp sim số 0375521998 thu giữ của Đỗ Trung N và 01 (một) điện thoại thoại vivo màu xanh đen bên trong lắp sim số 0979113987 thu giữ của Nguyễn Mạnh T là phương tiện để các bị cáo liên lạc cá nhân nên trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 (một) túi ni lông màu trắng có kích thước 2x3cm bên trong túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,106 gam.là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án:

- Đối với Kiều Văn T1 là đối tượng trực tiếp bán ma túy cho T. Ngày 31/8/2025 T1 bị Công an xã K bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT công an T tiến hành ghi lời khai đối với đối tượng T1, T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi bán ma túy cho Nguyễn Mạnh T ngày 27/7/2025 như nêu trên. Như vậy hành vi của Kiều Văn T1 đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điều 251 - Bộ luật hình sự. Hiện tại T1 đang là bị can trong vụ án Mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy của Cơ quan CSĐT - Công an T (Phòng PC04 thụ lý). Căn cứ điểm b, Khoản 1, Điều 170 BLTTHS CQCSĐT ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến hành vi của Kiều Văn T1 trong vụ án này để chuyển nhập vào vụ án do Cơ quan CSĐT - Công an T (Phòng PC04) đang thụ lý để điều tra theo thẩm quyền là đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông tên T4 đã cho Nguyễn Mạnh T mượn xe mô tô để đi mua ma túy vào ngày 25/7/2025. Theo lời khai của Tưởng người đàn ông này tên là Lý Xuân T4 (Sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã K, thành phố Hà Nội). Qua xác minh tại công an xã K, thành phố Hà Nội trên hệ thống phần mềm dữ liệu dân cư, kết quả: Không có người tên là Lý Xuân T4 (Sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã K, thành phố Hà Nội). Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với người đàn ông tên T4 về hành vi nêu trên.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Đỗ Trung N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255; điểm h, khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025); Xử phạt: Nguyễn Mạnh T 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 72 (Bảy mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2025.

Áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Đỗ Trung N 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2025.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi ni lông màu trắng có kích thước 2x3cm bên trong túi ni lông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,106gam đựng trong 01 phong bì màu trắng dán kín các mép, có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc T5, cán bộ công an xã N và bị cáo Nguyễn Mạnh T.

Trả lại Đỗ Trung N 01 (một) Điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím đậm bên trong lắp sim số 0375521998.

Trả lại Nguyễn Mạnh T 01 (một) điện thoại di động nhãn kiểu dáng vivo màu xanh đen bên trong lắp sim số 0979113987.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 009/GN/2026/KV10 ngày 14/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và phòng Thi hành án Khu vực 10 – Hà Nội.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14;

Bị cáo Nguyễn Mạnh T, Đỗ Trung N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - CA TP Hà Nội;
  • - VKSND Khu vực 10 – Hà Nội;
  • - Phòng THA Khu vực 10 – Hà Nội ;
  • - Bị cáo
  • - UBND xã Phú Cát, CA xã Phú Cát;
  • - Lưu HS, VP.

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Tưởng sử dụng trái phép chất may túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger