|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày 26 - 9 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đường Ngọc Đại – Cán bộ hưu trí; Bà Doãn Thị Vệ - Giáo viên nghỉ hưu;
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai, cán bộ Tòa án khu vực 8- Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Hoàng Văn T, sinh ngày: 13/5/2007. Giới tính: Nam; địa chỉ: Bản M, xã N, tỉnh Lào Cai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Không; Đảng; đoàn thể: Không; Quá trình hoạt động: Không, con ông Hoàng Văn C và con bà Ma Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt;
-
Triệu Tòn N, sinh ngày: 10/6/2008; Giới tính: Nam; địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, Đoàn thể: Không; con ông Triệu Phú S và con bà Bàn Thị N1; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt;
-
Triệu Tòn C1, sinh ngày: 21/01/2004, giới tính: Nam; địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Triệu Phú L và con bà Bàn Thị V; vợ con chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt;
-
Lý Tiến B1, sinh ngày 22/3/2006; giới tính: Nam; địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lý Kim P và con bà Triệu Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt;
-
Cà Văn X1, sinh ngày 02/3/2007; giới tính: Nam; địa chỉ: Xóm K, xã Q, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Không xác định, có bố dượng là ông Bùi Văn L1 và con bà Cà Thị S1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay, có mặt.
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo T:
- Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1985, vắng mặt;
Địa chỉ: Xã T, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Ma Thị B, sinh năm 1987; có mặt
Địa chỉ: Bản M, xã N, tỉnh Lào Cai;
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo N:
- Ông Triệu Phú S, sinh năm 1977; có mặt
- Bà Bàn Thị N1, sinh năm 1985; có mặt
Đều ở địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai;
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T, Lý Tiến B1 và Triệu Tòn N là:
Bà Kim Hồng T1- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý số 2 tỉnh P; địa chỉ: Số A đường T, phường V, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn X1 và Triệu Tòn C1 là: Bà Nguyễn Thị H- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý số 2 tỉnh P; địa chỉ: Số A đường T, phường V, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
* Bí thư Đoàn thanh niên xã N, tỉnh Lào Cai; nơi bị cáo T sinh sống, vắng mặt;
* Bí thư đoàn thanh niên xã X, tỉnh Lào Cai, nơi bị cáo N đang sinh sống, vắng mặt;
* Bị hại: Anh Phạm Quang T2, sinh ngày 02/5/2008;
Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Bà Trần Thị Thúy L2, sinh 1985;
- Ông Phạm Quang H1, sinh năm 1976;
Địa chỉ: Khu A, xã V, tỉnh Phú Thọ.
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Triệu Văn P1, sinh ngày 18/7/2009;
Người đại diện hợp pháp cho anh P1: Ông Triệu Kim H2, sinh năm 1979 và bà Triệu Thị P2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn C, xã M, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
-
Anh Triệu Văn A, sinh ngày 20/8/2010
Người đại diện hợp pháp cho A: Ông Triệu Phú K, sinh năm 1987
Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai;
Bà Bàn Thị L3, sinh năm 1994; địa chỉ: Xã B, tỉnh Phú Thọ.
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Anh Trần Văn N2, sinh ngày 12/6/2007;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ;
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Anh Quảng Anh T3, sinh ngày 05/8/2007;
Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Phú Thọ;
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Anh Ngô Anh Đ, sinh ngày 29/7/2008;
Người đại diện hợp pháp cho anh Đ:
Ông Ngô Văn M1, sinh năm 1955;
Bà Đỗ Thị Thanh M2, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Anh Vũ Trọng Đ1, sinh ngày 07/4/2008
Người đại diện hợp pháp cho anh Đ1: Ông Vũ Tiến T4, sinh năm 1982 và bà Hà Thị X, sinh năm 1982; địa chỉ: Xã K, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
-
Bà Ma Thị B, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Bản M, xã N, tỉnh Lào Cai; có mặt;
-
Ông Triệu Phú S, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; có mặt;
-
Bà Bàn Thị V, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; vắng mặt
-
Ông Lý Kim P, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai; có mặt;
-
Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Xóm K, xã Q, tỉnh Phú Thọ.
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Ông Triệu Phú K, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Lào Cai;
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Ông Triệu Kim H2, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn C, xã M, tỉnh Lào Cai; vắng mặt;
-
Bà Đỗ Thị Thanh M2, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Có đơn xin xét xử vắng mặt;
-
Chị Vũ Thị Kiều O, sinh năm 2004;
Địa chỉ: Thôn X, xã K, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
-
Chị Nguyễn Thị Thanh N3, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn T đang thuê ở trọ tại khu nhà ở trọ ở thôn V, xã B, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 21 giờ ngày 19/4/2025, T đến ăn cơm, uống rượu tại phòng số 13 tầng 2 khu nhà trọ Thắng N4 (Địa chỉ: Thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ); phòng trọ do chị Hồ Thị K1, sinh năm 2000 thuê của chị Nguyễn Thị Thanh N3, sinh năm 1986. Tại phòng trọ của chị K1 có chị Hà Thị D, anh Trần Văn N2, Q T3, anh Chu Ngọc K2 và anh Đinh Văn Đ2 đều là người cùng thuê phòng trọ của chị N3. Quá trình uống rượu tại phòng trọ của chị K1, Hoàng Văn T xảy ra mâu thuẫn với anh T3, anh N2 và anh K2 nên không uống rượu nữa mà đi xuống cổng khu nhà trọ đứng chửi. Thấy vậy chị Hà Thị D xuống can ngăn, đồng thời lấy xe mô tô chở T về phòng trọ của T ở xã B.
Do bực tức vì bị nhóm ở nhà trọ T5 Nhàn dọa đánh, nên khi về phòng trọ, T đã rủ các bạn cùng khu trọ gồm: Triệu Tòn S2, sinh năm 2005, Triệu Văn P1, sinh ngày 18/7/2009 (15 tuổi 9 tháng 1 ngày), Cà Văn X1, sinh ngày 02/3/2007, Triệu Văn A, sinh ngày 20/8/2010 (14 tuổi 7 tháng 29 ngày), Triệu Tòn N, sinh ngày 0/6/2008, Triệu Tòn C1, sinh năm 2004 và Lý Tiến B1, sinh ngày 22/3/2006, đi cùng T lên đánh nhóm ở nhà trọ Thắng N4 thì tất cả đồng ý, S2 không tham gia.
Hoàng Văn T gọi 02 xe taxi đến chở T, P1, X1, A, N, C1, B1 đến khu nhà trọ Thắng N4 (khi đi không ai đem theo hung khí gì). Khi đến nơi cả nhóm xuống xe đứng ở ngoài đường trước khu nhà trọ, 02 xe taxi ra về. Lúc này khoảng 23 giờ 30 phút ngày 19/4/2025, T, P1, X1, A, N, C1 và B1 đứng ở dưới đường chửi nhóm N2 đang đứng ở trên hành lang tầng 2 của khu trọ và nhặt gạch, đá, vỏ chai bia bằng thủy tinh ở ven đường ném lên tầng 2 trúng vào đầu T3 và sườn bên trái của K2 nhưng không ai bị thương tích gì. Do bị ném nên T3 chạy vào trong phòng của T3 lấy 01 chiếc bát bằng sứ ném về phía nhóm của T đang đứng ở dưới nhưng không trúng ai. Thấy nhóm của T đứng chửi bới và ném gạch đá lên thì N2 cầm theo 01 cán chổi bằng gỗ; Phạm Quang T2, cầm theo 01 cán chổi bằng inox; K2, T3, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1, đều là người ở trọ tại tầng 2 khu nhà trọ T5 Nhàn chạy xuống đuổi đánh nhóm của Hoàng Văn T. Nên cả nhóm của T bỏ chạy về phía đường đối diện gần cổng khu công nghiệp B, nhóm của N2 không đuổi nữa mà đi về phòng trọ. Lúc này, nhóm của T đi vào trong 01 lán tôn chứa sắt vụn ở bãi đất trống gần cổng khu công nghiệp B cách đó khoảng 200m để tìm đồ vật, hung khí đánh lại nhóm của N2. Tại đây Hoàng Văn T tìm được 06 chiếc tuýp sắt hình trụ và 01 con dao bằng kim loại đã bị hoen gỉ rồi chia cho P1, X1, A, C1 và B1 mỗi người 01 chiếc tuýp sắt, chia cho N 01 con dao, B1 tự tìm và nhặt được 01 ống nhôm hình trụ tròn rỗng bên trong, dài khoảng 01m, đường kính khoảng 03cm nên B1 vứt bỏ chiếc tuýp sắt của T đưa cho. Sau khi chuẩn bị hung khí xong, nhóm của T đứng lấp ở bãi đất trống có lưới bằng bao tải xác rắn màu đen che chắn, đợi nhóm của N2 đi qua thì sẽ ra đánh nhau.
Khi quay về nhà trọ, do bực tức về việc nhóm của T chửi bới nên T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 88F1-663.19 chở T2 cầm 01 cán chổi bằng inox và N2 cầm theo cán chổi bằng gỗ; Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, không gắn biển kiểm soát, cầm theo 01 chiếc gậy gỗ dài khoảng 50cm, chở theo Vũ Trọng Đ1 ngồi sau không cầm gì để đi ra phía cổng khu công nghiệp B tìm nhóm của T, K2 không đi mà về phòng trọ nghỉ ngơi. Lúc này khoảng 23 giờ 45 phút ngày 19/4/2025, khi nhóm của N2 đi đến đoạn đường gần bãi đất trống mà nhóm của T đang đứng đợi, thì T2 nhìn thấy Triệu Văn A đi ra ngoài nên bảo với cả nhóm dừng xe lại ở ven đường, N2 cầm theo cán chổi bằng gỗ, Đ cầm theo gậy gỗ cùng với T2 cầm theo cán chổi bằng inox đi vào bãi đất trống, T3 và Đ1 đứng đợi ở xe. Khi thấy T2, N2 và Đ vào thì nhóm của T từ trong bụi cây lao ra đánh nhau qua lại với nhóm T2, N2 và Đ. Lúc này, T2 dơ gậy lên vụt về phía B1 nhưng B1 né được đồng thời dùng tay phải cầm ống nhôm hình trụ, rỗng bên trong, dài 70cm, đường kính 03cm vụt ngang từ phải sang trái vào vị trí vùng lưng và vai gáy của T2. Bị B1 vụt nên T2 bỏ chạy thì N tay phải cầm dao bằng kim loại có một cạnh sắc, đã bị hoen gỉ có tổng chiều dài 40,5cm, phần lưỡi dài 34cm, bản rộng nhất là 06cm lao vào chém 01 phát trúng vào cằm làm T2 ngã xuống đất. Thấy T2 ngã xuống đất thì C1 tay phải cầm tuýp sắt hình trụ, rỗng bên trong, dài 78cm, đường kính 03cm đánh 01 phát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào vùng trán của T2. Sau đó, không ai đánh T2 nữa; B1, N, C1, T và P1 cầm hung khí đuổi đánh Đ và N2.
Do nhóm của T có hung khí, lại đông hơn nên Đ1, Đ và N2 tiếp tục bỏ chạy ra ngoài. Khi chạy ra đến vị trí đỗ xe, N2 lên xe của T3 rồi cùng nhau bỏ chạy về phòng trọ, còn Đ và Đ1 lên xe của Đ nhưng chưa kịp điều khiển xe bỏ chạy đi thì bị nhóm của T đuổi đến nơi. Đ1 và Đ bỏ lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đen, không gắn BKS của Đ rồi chạy bộ về hướng nhà trọ khoảng 100m thì thấy nhóm của T không đuổi theo nữa nên cả hai dừng lại. Thấy xe mô tô của Đ bỏ lại, C1 dùng gậy sắt đập 02 phát vào phía đầu của xe rồi B1, X1, N và T cũng đến dùng gậy, gạch đá đập phá xe mô tô làm xe bị hư hỏng. Sau đó cả nhóm quay lại vị trí của T2 thấy T2 vẫn nằm ở đường thì cả nhóm hốt hoảng bỏ lại tuýp sắt, dao ở hiện trường rồi chạy về phía khu công nghiệp B, đi về phòng trọ. Khi nhóm của T bỏ đi, Đ1 và Đ quay lại lấy xe và đi về phòng trọ, T2 cũng dậy và tự đi bộ về khu nhà trọ. Do Phạm Quang T2 bị thương tích tại vùng cằm và vùng trán, đỉnh đầu bên trái nên mọi người đưa cấp cứu và điều trị tại Trạm y tế xã T, Bệnh viện H3, rồi chuyển về Bệnh viện Đa khoa tỉnh P điều trị từ ngày 20/4/2025 đến ngày 05/5/2025 ra viện. Triệu Tòn C1 bị sây sát da tại mu bàn tay phải, mặt trước ngoài cánh tay phải và hàm bên trái, nhưng do thương tích nhẹ nên không đi điều trị tại đâu. Xe mô tô Honda Lead màu đen, không gắn BKS của Ngô Anh Đ điều khiển bị hư hỏng các bộ phận phần đầu xe.
Ngày 20/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V (nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tiếp nhận đơn trình báo của gia đình anh T2, Cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện đối với chiếc xe mô tô bị hư hỏng và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật. Ngày 22/4/2025 các đối tượng Hoàng Văn T, Triệu Văn P1, Cà Văn X1, Triệu Văn A, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1 và Lý Tiến B1 đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi đánh gây thương tích cho Phạm Quang T2 như nêu trên. Ngày 28/4/2025, anh Phạm Quang T2 có đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các đối tượng đã có hành vi đánh gây thương tích cho T2 theo quy định của pháp luật.
* Về tang, tài, vật thu giữ:
- Thu giữ tại khu vực nhà trọ Thắng Nhàn: 02 viên gạch đất nung có kích thước (20x9x5,5)cm; 01 mảnh viên gạch đất nung có kích thước (12,5x9x5,5) cm; 01 mảnh viên gạch đất nung có kích thước (10x10x5)cm; 01 viên đá màu trắng có kích thước (17x8x5)cm; các mảnh vỡ sứ và vụn gạch.
- Thu giữ tại khu vực bãi đất trống nơi anh Phạm Quang T2 bị đánh: 03 đoạn gỗ kích thước dài, rộng lần lượt là (37x3,5)cm, (20,8x3)cm, (20,5x3,5)cm; 02 ống kim loại màu trắng; 01 ống kim loại hình hộp; 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét; 02 chiếc dép nhựa; các mảnh vỡ nhựa.
- Chị Vũ Thị Kiều O, là chị gái của Vũ Trọng Đ1 giao nộp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLHJK1240RZ013733, số máy: JK41E0213754 bị nhóm của Hoàng Văn T đập phá nêu trên.
- Bà Đỗ Thị Thanh M2 là mẹ đẻ của Ngô Anh Đ giao nộp 01 đăng ký xe của mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, BKS 88AK-047.64, số khung: RLHJK1240RZ013733, số máy: JK41E0213754 và 01 biển kiểm soát 88AK-047.64, là biển số và giấy tờ của chiếc xe mô tô đã bị nhóm Hoàng Văn T đập phá nêu trên.
* Kết quả giám định:
- Theo biên bản xác minh thương tích ngày 20/04/2025 tại Trạm y tế xã T: Hồi 00 giờ 35 phút ngày 20/04/2025 Phạm Quang T2 được một số người bạn đưa đến trạm y tế xã T, trong tình trạng vết thương phần mềm vùng cằm dài 3cm, sâu 0,5cm, vết thương hở. Tại vùng mặt bị dính nhiều vết máu đã khô. Vùng trên trán bên phải có 01 vết trầy xước rỉ máu, đầu gối bên trái có 01 vết trầy xước rỉ máu. Tình trạng bệnh nhân hỏi lơ mơ, tiếp xúc kém; Trạm y tế xã T đã sơ cứu, lau vết thương, băng ép vùng cằm và cho chuyển đến Bệnh viện Đ3;
- Theo biên bản xác minh thương tích ngày 20/04/2025, tại Bệnh viện Đ3 cho thấy: Vào 01 giờ 08 phút ngày 20/04/2025 bệnh nhân Phạm Quang T2 vào viện trong tình trạng bệnh nhân hôn mê, tự thở, đồng tử hai bên 02mm, có phản xạ ánh sáng, vết thương cằm chảy máu. Kết quả chụp CLVT sọ não: Hình ảnh tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương trán trái. Kết quả chụp CLVT hàm mặt: Hình ảnh vỡ lồi cầu xương hàm dưới bên trái đến 02 giờ 10 phút ngày 20/04/2025 bệnh nhân Phạm Quang T2 được chuyển xuống Bệnh viện V1.
- Theo biên bản xác minh thương tích hồi 17 giờ 15 phút ngày 20/04/2025 tại Bệnh viện H3: Bệnh nhân Phạm Quang T2 viện lúc 03 giờ 20 phút ngày 20/04/2025 trong tình trạng lơ mơ, gọi hỏi biết, hàm mặt sây sát, vết thương vùng cằm kích thước (04 x 03)cm, bờ nham nhở. Chụp CT sọ não có hình ảnh tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái. Kết quả chụp CT hàm mặt sọ não: Vỡ cổ lồi cầu xương hàm dưới. CT sọ não có khối máu tụ dưới màng cứng kích thước 06x03x06cm và 05x04x01cm, đường vỡ xương đỉnh trán. Hiện tại bệnh nhân Phạm Quang T2 đã được phẫu thuật lấy máu tụ trong Để não đang điều trị ở phòng hồi tỉnh – Bệnh viện H3.
Ngày 21/4/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số A905 trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với anh Phạm Quang T2. Ngày 22/4/2025, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh V có Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 98/KLTTCT-GĐYK-PYVP, kết luận: “Các kết quả chính: Vết mổ vùng trán– đỉnh– thái dương trái kích thước trung bình, xếp: 02%. Vết thương mặt trước cằm kích thước nhỏ, xếp: 03%. Vết dẫn lưu vùng đỉnh lệch trái kích thước nhỏ, xếp: 01%. Vỡ lồi cầu xương hàm dưới bên trái lan vào lồi cầu và khớp thái dương hàm bên trái không gây trật khớp, xếp: 09%. Tụ máu ngoài màng cứng trán thái dương trái, xếp: 05%. Tụ máu dưới màng cứng trán thái dương trái, xếp: 08%. Hiện tại các tổn thương trên đang điều trị và phẫu thuật xương hộp xương hộp sọ chưa đánh giá được. Khi nào ổn định giám định bổ sung sau. Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích đã mô tả trên có thể do vật tày có cạnh gây nên. Kết luận: Tại thời điểm giám định, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phạm Quang T2 là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).”
Ngày 22/7/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh P ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số A1510, trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định bổ sung thương tích của anh Phạm Quang T2. Tuy nhiên anh Phạm Quang T2 kiên quyết từ chối và có đơn đề nghị không giám định bổ sung thương tích.
Ngày 22/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra Quyết định trưng cầu giám định số A1511 trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ tổn thương trên cơ thể đối với Triệu Tòn C1. Tuy nhiên do thương tích nhẹ và cũng không biết ai là người trực tiếp gây thương tích cho mình, nên Triệu Tòn C1 có đơn từ chối giám định thương tích, xin miễn truy cứu tránh nhiệm hình sự cho tất cả các đối tượng đánh gây thương tích cho C1, C1 không yêu cầu, đề nghị gì.
Ngày 22/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra Quyết định trưng cầu giám định số A1512 trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh P giám định vũ khí quân dụng đối với 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét, thu giữ được trong quá trình khám nghiệm hiện trường. Ngày 26/7/2025, Phòng KTHS - Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 925/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là dao có tính sát thương cao (dao sắc, nhọn) theo khoản 6, điều 2, Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và theo mục 1, Phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 5/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C2 Quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Mẫu vật gửi giám định thuộc vũ khí quân dụng nếu sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật theo điểm d, khoản 2, điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.”
* Kết quả định giá tài sản: Ngày 26/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V ra Yêu cầu định giá tài sản số A3464 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B tiến hành định giá đối với phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 88AK-047.64, số khung: RLHJK1240RZ013733, số máy: JK41E0213754. Ngày 30/5/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B có Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS, kết luận: “Phần hư hỏng của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 88AK-047.64, số khung: RLHJK1240RZ013733, số máy: JK41E0213754 có giá trị là 980.000 đồng.”
* Về xử lý tang, tài, vật vụ án:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, 01 giấy đăng ký của xe mô tô và 01 BKS: 88AK-047.64, xe mà Ngô Anh Đ điều khiển chở Vũ Trọng Đ1 đi đánh nhau ngày 19/4/2025 và bị đập phá làm hư hỏng phần đầu xe, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị Thanh M2, mẹ Đ không liên quan hành vi phạm tội. Ngày 29/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại chiếc xe cùng đăng ký xe, BKS xe cho bà Đỗ Thị Thanh M2; nay bà M2 không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- Đối với 02 chiếc dép nhựa mà Cơ quan điều tra thu giữ được tại hiện trường, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Phạm Quang T2. Ngày 29/7/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trả lại cho anh T2.
- Đối với 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét, thu giữ được trong quá trình khám nghiệm hiện trường được hoàn trả lại sau giám định. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để phục vụ quá trình điều tra, theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự đối với hành vi sử dụng con dao gây thương tích cho người khác này của T và N.
- Đối với các vật chứng gồm: 04 viên gạch đất nung; 01 viên đá màu trắng các mảnh vỡ sứ và vụn gạch (thu tại khu vực nhà trọ Thắng N4); 03 đoạn gỗ; 02 ống kim loại màu trắng; 01 ống kim loại hình hộp; các mảnh vỡ nhựa không có giá trị sử dụng (thu tại khu vực bãi đất trống, nơi Phạm Quang T2 bị đánh). Quá trình điều tra xác định là công cụ, hung khí các đối tượng nhặt ngoài đường, sử dụng để đánh nhau, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
* Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bà Ma Thị B (là mẹ của Hoàng Văn T); ông Triệu Phú S (là bố của Triệu Tòn N); bà Bàn Thị V, (là mẹ của Triệu Tòn C1); ông Lý Kim P (là bố của Lý Tiến B1); ông Bùi Văn L1 (là bố dượng của Cà Văn X1); ông Triệu Phú K (là bố của Triệu Văn A) ông Triệu Kim H2 ( là bố đẻ của Triệu Văn P1) đã tự nguyện thay mặt các bị cáo và các đối tượng, mỗi người đóng góp số tiền là 21.428.000 đồng để bồi thường cho anh Phạm Quang T2, tổng số tiền bồi thường là 149.996.000đồng; nay họ không yêu cầu các bị cáo, đối tượng phải hoàn trả. Sau khi nhận đủ số tiền bồi thường 149.996.000đồng, anh T2 cùng người đại diện hợp pháp không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo.
Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, không gắn BKS, định giá thiệt hại là 980.000đồng. Quá trình điều tra bà Đỗ Thị Thanh M2 là chủ sở hữu xe xin tự khắc phục, sửa chữa, không yêu cầu các đối tượng phải bồi thường thiệt hại gì.
- Đối với Triệu Văn P1 và Triệu Văn A, ngày 19/4/2025 khi thực hiện hành vi phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, P1 và A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo về nội dung vi phạm của P1 và A cho chính quyền địa phương nơi cư trú là Ủy ban nhân dân xã M và xã X, tỉnh Lào Cai đề nghị ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với P1 và A.
- Đối với hành vi của Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 có hành vi đập phá làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 88AK-047.64, định giá thiệt hại là 980.000 đồng. Quá trình điều tra xác định các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, hành vi của các bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 29/7/2025, Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, N, C1, B1 và X1.
- Đối với các đối tượng Trần Văn N2, Quảng Anh T3, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1 và Phạm Quang T2 có hành vi mang theo đồ vật, công cụ để dồn đuổi và đánh nhau nhằm mục đích gây thương tích cho nhóm của Hoàng Văn T làm Triệu Tòn Chày bị thương tích nhẹ. Do C1 có đơn xin từ chối giám định thương tích và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các đối tượng đánh gây thương tích cho mình, nên hành vi của N2, T3, Đ, Đ1 và T2 không cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 29/7/2025, Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn N2, Quảng Anh T, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1 và Phạm Quang T2.
- Hành vi của các bị cáo, P1 và A cùng nhóm đối tượng Trần Văn N2, Quảng Anh T3, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1 và Phạm Quang T2, đánh nhau từ khu vực nhà trọ Thắng N thuộc thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ (Trước là thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc), đến khu vực bãi đất trống cạnh Khu công nghiệp B thuộc thôn B, xã B, tỉnh Phú Thọ (Trước là TDP B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc). Quá trình điều tra xác định sự việc diễn ra vào ban đêm, trong khoảng thời gian ngắn, trên đoạn đường ngắn (khoảng 200m), không có người và phương tiện tham gia giao thông, các hộ dân sinh sống xung quanh và người thuê trọ ở khu nhà trọ Thắng N đều đóng cửa đi ngủ hết không ai biết gì về vụ việc trên, khu nhà trọ Thắng N4 không bị hư hỏng, thiệt hại tài sản gì. Sau khi xảy ra sự việc không ai hoang mang, lo sợ, không ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, không ai trình báo vụ việc tới cơ quan chức năng, không gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Nên hành vi của các đối tượng không cấu thành tội: “ Gây rối trật tự công cộng”, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Đối với Hoàng Văn T có hành vi đưa cho Triệu T6 Náy 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét để thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Phạm Quang T2. Ngày 26/7/2025, Phòng KTHS - Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 925/KL-KTHS, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là dao có tính sát thương cao (dao sắc, nhọn) theo khoản 6, điều 2, Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và theo mục 1, Phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 5/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C2 Quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Mẫu vật gửi giám định thuộc vũ khí quân dụng nếu sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật theo điểm d, khoản 2, điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Ngày 30/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P quyết định tách hành vi trên của các bị can kèm theo các tài liệu, vật chứng liên quan để tiến hành xác minh, giải quyết theo trình tự quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại cơ quan điều tra các bị cáo Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình;
Tại Cáo trạng số: 18/CT – VK SKV8 ngày 18 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 đã truy tố các bị cáo Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử;
1) Đối với bị cáo T:
*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025;
2) Đối với bị cáo C1:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo C1 từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025
3) Đối với bị cáo B1:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo B1 từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025
4) Đối với bị cáo X1:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo X1 từ 02 năm 07 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025.
5) Đối với bị cáo N:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo N từ 02 năm 07 tháng đến 03 năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025;
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 viên gạch đất nung, 01 viên đá màu trắng, các mảnh vỡ sứ và vụn gạch; 03 đoạn gỗ kích, 02 ống kim loại màu trắng; 01 ống kim loại hình hộp; các mảnh vỡ nhựa không có giá trị sử dụng.
Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T, Lý Tiến B1 và Triệu Tòn N là bà Kim Hồng T1- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý số 2 tỉnh P; trình bày lời bào chữa:
Nhất trí với Bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo T, B1 và N về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự”. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo T và N còn là người chưa thành niên. Trước khi phạm tội các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo T và N khi phạm tội là người chưa thành niên, nên áp dụng Điều 91 và Điều 101, Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
* Người bào chữa cho bị cáo Cà Văn X1 và Triệu Tòn C1 là bà Nguyễn Thị H- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý số 2 tỉnh Phú Thọ, trình bày lời bào chữa: Nhất trí với Bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo X1 và C1 về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự”. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật hạn chế. Trước khi phạm tội các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho hai bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo T, N, C1, B1 và X1 đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt khi nói lời sau cùng.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người bào chữa và người đại diện hợp pháp không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Phú Thọ đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, là phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phù hợp với cách thức thực hiện hành vi phạm tội và chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ mâu thuẫn khi uống rượu giữa Hoàng Văn T với nhóm thanh niên ở khu N tại thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ. Nên Hoàng Văn T đã rủ Triệu Văn P1, sinh ngày 18/7/2009 (15 tuổi 9 tháng 1 ngày), Triệu Văn A, sinh ngày 20/8/2010 (14 tuổi 7 tháng 29 ngày); Triệu Tòn N, sinh ngày 10/6/2008 (16 tuổi 10 tháng 09 ngày); Cà Văn X1; sinh ngày 02/3/2007, Triệu Tòn C1, sinh năm 2004 và Lý Tiến B1, sinh năm 2006, đi đến khu N để đánh nhau, tất cả đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 19/4/2025, nhóm nhà trọ T5 Nhàn gồm có Phạm Quang T2, sinh ngày 02/5/2008 (cầm 01 cán chổi bằng inox); Trần Văn N2, sinh ngày 12/6/2007, (cầm 01 cán chổi bằng gỗ); Quảng Anh T3, sinh ngày 05/8/200, Ngô Anh Đ, sinh ngày 29/7/2008 cầm 01 đoạn gậy gỗ và Vũ Trọng Đ1, sinh ngày 07/4/2008 đi từ nhà trọ T5 Nhàn tới tại khu vực bãi đất trống thôn B, xã B, tỉnh Phú Thọ để tìm đánh nhóm của T (cách khu nhà trọ khoảng 200m). Lúc này nhóm của Trần Văn N2 bị nhóm của T gồm: T, P1, X1, A, C1 mỗi người cầm 01 tuýp sắt, N cầm 01 con dao, B1 cầm 01 ống nhôm hình trụ tròn rỗng bên trong chuẩn bị sẵn từ trước đánh lại. Quá trình đánh nhau, anh T2 bị B1 dùng 01 ống nhôm hình trụ rỗng vụt vào vị trí vùng lưng và vai gáy, N dùng 01 con dao bằng kim loại có một cạnh sắc, đã bị hoen gỉ chém 01 phát trúng vào cằm và C1 dùng 01 tuýp sắt đánh 01 phát trúng vào vùng trán của anh T2. Hậu quả làm anh T2 bị thương tích tổn hại 25% sức khỏe.
Khi thực hiện hành vi phạm tội Hoàng Văn T được 17 tuổi 11 tháng 06 ngày, Triệu Tòn N được 16 tuổi 10 tháng 9 ngày; Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 đều trên 18 tuổi. Triệu Văn P1 và Triệu Văn A chưa đủ 16 tuổi.
[3] Hành vi của Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 sử dụng hung khí gây thương tích tổn hại 25% sức khỏe cho anh Phạm Quang T2 như nêu trên, đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:
-
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ... hung khí nguy hiểm ...;
-
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
[4] Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[5] Xét nhân thân, tính chất, mức độ, vai trò của các bị cáo cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Các bị cáo Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 đều phạm tội lần đầu; quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và các bị cáo đến Công an đầu thú. Nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Trong vụ án này, bị cáo Hoàng Văn T là người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị hung khí đưa cho các bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo Lý Tiến B1, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1 là đồng phạm trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại anh Trường Cà Văn X1 tuy không trực tiếp đánh gây thương tích cho bị hại anh T2, nhưng là đồng phạm cổ vũ giúp sức tích cực cho các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, bị cáo T và N khi thực hiện hành vi phạm tội đều là người chưa thành niên, nên được áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến người chưa thành niên phạm tội. Nên mức hình phạt áp dụng cho bị cáo T là cao nhất, sau đó đến bị cáo N, C1, B1 và X1 là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, 01 giấy đăng ký của xe mô tô và 01 BKS: 88AK-047.64, xe này ngày 19/4/2025 Ngô Anh Đ điều khiển chở Vũ Trọng Đ1 đi đánh nhau và bị đập phá làm hư hỏng phần đầu xe định giá 980.000đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị Thanh M2, mẹ Đ không liên quan hành vi phạm tội. Ngày 29/7/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cùng đăng ký xe, BKS xe cho bà Đỗ Thị Thanh M2; nay bà M2 không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- Đối với 02 chiếc dép nhựa mà Cơ quan điều tra thu giữ được tại hiện trường, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Phạm Quang T2. Ngày 29/7/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2.
- Đối với 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét, thu giữ được trong quá trình khám nghiệm hiện trường được hoàn trả lại sau giám định. Cơ quan điều tra xác định đây là con dao ngày 19/4/2025 T nhặt được đưa cho N để chém gây thương tích cho Phạm Quang T2. Theo kết quả giám định xác định con dao này là Vũ khí quân dụng, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi trên của bị cáo T và N kèm theo vật chứng (Con dao) để tiến hành xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Đối với các vật chứng chuyển sang Cơ quan thi hành án gồm: 04 viên gạch đất nung; 01 viên đá màu trắng; các mảnh vỡ sứ và vụn gạch (thu tại khu vực nhà trọ Thắng N4); 03 đoạn gỗ; 02 ống kim loại màu trắng; 01 ống kim loại hình hộp; các mảnh vỡ nhựa không có giá trị sử dụng (thu tại khu vực bãi đất trống, nơi Phạm Quang T2 bị đánh). Quá trình điều tra xác định là công cụ, hung khí các đối tượng nhặt ngoài đường, sử dụng để đánh nhau, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bà Ma Thị B (là mẹ đẻ của Hoàng Văn T); ông Triệu Phú S (là bố đẻ của Triệu Tòn N); bà Bàn Thị V, (là mẹ đẻ của Triệu Tòn C1); ông Lý Kim P (là bố của Lý Tiến B1); ông Bùi Văn L1 (là bố dượng của Cà Văn X1); ông Triệu Phú K (là bố của Triệu Văn A) ông Triệu Kim H2 ( là bố đẻ của Triệu Văn P1) đã tự nguyện thay mặt các bị cáo và P1, A, mỗi người đóng góp số tiền là 21.428.000 đồng để bồi thường cho anh Phạm Quang T2, tổng số tiền bồi thường là 149.996.000đồng; nay họ không yêu cầu các bị cáo, P1, A phải hoàn trả. Sau khi nhận đủ số tiền bồi thường, anh T2 cùng người đại diện hợp pháp không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với phần hư hỏng của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, không gắn biển kiểm soát, số khung: RLHJK1240RZ013733, số máy: JK41E0213754 định giá thiệt hại là 980.000đồng. Quá trình điều tra bà Đỗ Thị Thanh M2 là chủ sở hữu xe xin tự khắc phục, sửa chữa, không yêu cầu các đối tượng phải bồi thường thiệt hại gì.
[9] Đối với Triệu Văn P1 và Triệu Văn A, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Ngày 19/4/2025 khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều chưa đủ 16 tuổi. Căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, P1 và A chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã ban hành thông báo về nội dung vi phạm của P1 và A cho chính quyền địa phương nơi cư trú là Ủy ban nhân dân xã M và xã X, tỉnh Lào Cai đề nghị ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã đối với P1 và A.
[10] Đối với hành vi của Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 có hành vi đập phá làm hư hỏng xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 88AK-047.64, định giá thiệt hại là 980.000 đồng. Quá trình điều tra xác định các bị cáo trên đều chưa có tiền án, tiền sự gì liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, hành vi của các bị can không đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 29/7/2025, Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1.
[11] Đối với các đối tượng Trần Văn N2, Quảng Anh T, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1 và Phạm Quang T2 có hành vi mang theo đồ vật, công cụ để dồn đuổi và đánh nhau nhằm mục đích gây thương tích cho nhóm của Hoàng Văn T làm Triệu Tòn Chày bị thương tích nhẹ. Do C1 có đơn xin từ chối giám định thương tích và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho các đối tượng đánh gây thương tích cho mình nên hành vi của N2, T3, Đ, Đ1 và T2 không cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngày 29/7/2025, Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn N2, Quảng Anh T, Ngô Anh Đ, Vũ Trọng Đ1 và Phạm Quang T2.
[12] Hành vi các đối tượng tham gia ném gạch đá, chai thủy tinh và dồn đuổi, đánh nhau từ khu vực nhà trọ Thắng N thuộc thôn Q, xã B, tỉnh Phú Thọ (trước là thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc) đến khu vực bãi đất trống cạnh Khu công nghiệp B thuộc thôn B, xã B, tỉnh Phú Thọ (trước là TDP B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc). Quá trình điều tra xác định sự việc diễn ra vào ban đêm, trong khoảng thời gian ngắn, trên đoạn đường ngắn (khoảng 200m), không có người và phương tiện tham gia giao thông, các hộ dân sinh sống xung quanh và người thuê trọ ở khu nhà trọ Thắng N đều đóng cửa đi ngủ hết không ai biết gì về vụ việc trên, khu nhà trọ Thắng N4 không bị hư hỏng, thiệt hại tài sản gì. Sau khi xảy ra sự việc không ai hoang mang, lo sợ, không ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, không ai trình báo vụ việc tới cơ quan chức năng, không gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của các đối tượng không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[13] Đối với Hoàng Văn T có hành vi đưa cho Triệu T6 Náy 01 con dao không còn chuôi, đã bị rỉ sét để thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Phạm Quang T2. Ngày 26/7/2025, Phòng KTHS - Công an tỉnh P có Kết luận giám định số 925/KL-KTHS, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là dao có tính sát thương cao (dao sắc, nhọn) theo khoản 6, điều 2, Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và theo mục 1, Phụ lục 5 Danh mục dao có tính sát thương cao ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 5/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C2 Quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Mẫu vật gửi giám định thuộc vũ khí quân dụng nếu sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật theo điểm d, khoản 2, điều 2 Luật số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024 của Quốc hội về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Ngày 30/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P quyết định tách hành vi trên của các bị can kèm theo các tài liệu, vật chứng liên quan để tiến hành xác minh, giải quyết theo trình tự quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo T và N còn là người chưa thành niên đều có đơn xin miễn án phí; nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự cho các bị cáo là phù hợp;
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Triệu Tòn N, Triệu Tòn C1, Lý Tiến B1 và Cà Văn X1 phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
-
*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 91 và Điều 101, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025;
-
* Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 91 và Điều 101, b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Triệu Tòn N 02 (Hai) năm 07 (Bảy) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025;
-
*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Triệu Tòn C1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025
-
*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lý Tiến B1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025
-
*Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 của của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Cà Văn X1 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 22/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 02 viên gạch đất nung có kích thước (20x9x5,5)cm; 01 mảnh viên gạch đất nung có kích thước (12,5x9x5,5)cm; 01 mảnh viên gạch đất nung có kích thước (10x10x5)cm; 01 viên đá màu trắng có kích thước (17x8x5)cm; các mảnh vỡ sứ và vụn gạch; 03 đoạn gỗ kích thước dài, rộng lần lượt là (37x3,5)cm, (20,8x3)cm, (20,5x3,5)cm; 02 ống kim loại màu trắng; 01 ống kim loại hình hộp; các mảnh vỡ nhựa không có giá trị sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 23/9/2025; giữa Công an tỉnh P với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8- Phú Thọ.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên;người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định!
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THỊ THÚY |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn Trực, Triệu Tòn Náy, Triệu Tòn Chày, Lý Tiến Bảo và Cà Văn Xuân phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
