|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 22 - 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ
—————————
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà.
Ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 42/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Vũ Thị Hoài A, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1966 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, khu H, phường V, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở hiện nay: Tổ D, khu T, phường N, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Bán vé xổ số; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Số CCCD: 025166010076; Con ông: Vũ Viết T (đã chết) và bà Mầu Thị T1 (đã chết); Bị cáo có chồng là Lê Đức M (đã chết) và 02 con, con lớn sinh năm 1986 và con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 102/2020/HS-ST ngày 31/7/2020 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Vũ Thị Hoài A 20.000.000 đồng về tội: Đánh bạc. Bị cáo đã chấp hành xong tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/01/2021. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/9/2025, đến ngày 10/9/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường N, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt).
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2005
- Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu H, phường V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 40 phút ngày 07/9/2025, tại vỉa hè đường N thuộc khu T, phường N, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác Công an phường N, tỉnh Phú Thọ kiểm tra, phát hiện Vũ Thị Hoài A đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Hữu N. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Thị Hoài A, đồng thời thu giữ của Vũ Thị Hoài A số tiền 15.141.000 đồng; 02 tờ giấy trắng hình chữ nhật có ghi nhiều số lô, số đề; 02 bút bi màu đen; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 túi giả da màu nâu có quai xách đã cũ; 35 mảnh giấy được cắt thành hình chữ nhật có một mặt màu trắng; Thu giữ của Nguyễn Mạnh C: 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ghi ngày 07/9; Thu giữ của Nguyễn Hữu N: 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ghi 07/9.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thị Hoài A, Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Hữu N khai nhận về hành vi đánh bạc của mình như sau:
Vũ Thị Hoài A có ký hợp đồng làm đại lý xổ số với Công ty TNHH MTV X từ ngày 13/6/2024 đến nay và đăng ký điểm bán tại vỉa hè đường N thuộc khu T, phường N, tỉnh Phú Thọ. Do bản thân Anh cần tiền tiêu sài cá nhân nên đã nảy sinh ý định lợi dụng điểm bán lô tô, xổ số nhà nước để bán số lô, số đề cho khách nhằm thu lời bất chính. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, tại điểm bán lô tô, xổ số của mình, Vũ Thị Hoài A đã bán trái phép số lô, số đề cho Nguyễn Mạnh C và Nguyễn Hữu N cụ thể như sau: C mua các số lô 17, 71 mỗi số 50 điểm, một điểm lô là 20.000đồng; các số đề: 17, 71, 62, 26, 76, 67 mỗi số 100.000 đồng; tổng số tiền C mua số lô, số đề của Anh là 2.800.000 đồng; N mua các số lô 06, 60 mỗi số 50 điểm; số lô 28, 43 mỗi số 25 điểm, một điểm lô là 20.000 đồng; các số đề 06, 60, 28 mỗi số 100.000 đồng; tổng số tiền N mua số lô, số đề của Anh là 3.300.000 đồng. Số tiền mua số lô, số đề C và N đã thanh toán hết cho A.
Sau khi nhận tiền, Hoài A đã ghi các số lô, số đề C và N đã mua vào 01 mảnh giấy (gọi là cáp đề) đưa cho C, N giữ lại để so sánh kết quả, còn Anh ghi các số lô, số đề C và N mua vào 1 tờ giấy (gọi là bảng đề). Khi mua bán xong, Hoài A đang ngồi cùng C và N ở quầy bán lô tô, xổ số thì bị tổ công tác Công an phường N bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Ngoài ra, Vũ Thị Hoài A còn khai nhận từ khoảng 15 giờ đến 17 giờ cùng ngày, Hoài A còn bán số lô, số đề cho khoảng 15 người khác là khách vãng lai (Hoài A không biết tên, tuổi địa chỉ) với số tiền 9.041.000 đồng và cũng ghi lại các số lô, số đề đã bán cho những khách vãng lai này vào 02 tờ giấy hình chữ nhật đã bị cơ quan điều tra thu giữ. Số tiền mua số lô, số đề các khách vãng lai đã thanh toán hết cho Hoài A.
Quy ước, thoả thuận thắng thua của Hoài A và C, N cùng các khách khác như sau: Số lô, số đề là số có 02 số tự nhiên được so sánh với 02 số cuối của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày. Số đề là số có 02 số tự nhiên được so sánh với 02 số cuối của giải đặc biệt của kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, nếu trùng là trúng thì A phải trả cho người mua gấp 70 lần số tiền mà người mua mua số đề. Số lô được so sánh với 02 số cuối của tất cả các giải của kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày, nếu trùng là trúng. Anh bán 01 điểm lô với giá 20.000 đồng. Nếu số lô người mua trúng thì cứ 01 điểm lô Anh phải trả cho người mua 70.000 đồng. Nếu số lô, số đề người mua không trúng thì A được hưởng toàn bộ số tiền của khách mua. Các bên thống nhất sẽ thanh toán tiền thắng thua vào chiều ngày hôm sau tại điểm bán lô tô, xổ số của A.
Do hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề của Vũ Thị Hoài A, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Hữu N bị phát hiện trước khi có kết quả kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày 07/9/2025. Do vậy, số tiền Hoài A tham gia đánh bạc là 15.141.000 đồng, số tiền Nguyễn Mạnh C tham gia đánh bạc là 2.800.000 đồng và Nguyễn Hữu N tham gia đánh bạc là 3.300.000 đồng. Do C và N đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên sau khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra đã chuyển Công an phường N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đánh bạc của C và N.
Đối với 15 người khách khác là khách vãng lai đã mua số lô, số đề của Vũ Thị Hoài A, do A không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ngoài lời khai của Anh không có tài liệu nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Thị Hoài A về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 321 của Bộ luật hình sự và ngày 11/9/2025 ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án trên.
Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKSKV1 ngày 05/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ truy tố bị can Vũ Thị Hoài A về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Thị Hoài A đã khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận quyết định truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo như vậy là đúng. Bị cáo bị thu giữ: số tiền 15.141.000 đồng là tiền bị cáo bán số lô, số đề ngày 07/9/2025; 02 tờ giấy trắng hình chữ nhật có ghi nhiều số lô, số đề; 02 bút bi màu đen; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 túi giả da màu nâu có quai xách đã cũ; 35 mảnh giấy được cắt thành hình chữ nhật có một mặt màu trắng, mặt còn lại nhiều màu sắc là dụng cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi mua bán số lô, số đề ngày 07/9/2025. Nghề nghiệp của bị cáo bán vé số, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Bị cáo có tài sản riêng là quyền sử dụng đất và nhà xây 2 tầng đứng tên bị cáo và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave BKS 19B1 - 112.05. Bị cáo đã tích cực ủng hộ Trường giáo dục chuyên biệt tỉnh P. Bố chồng bị cáo là ông Lê Công H là liệt sỹ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Hoài A phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Hoài A từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được Quyết định thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ 03 ngày từ ngày 07/9/2025 đến ngày 10/9/2025 được quy đổi bằng 9 ngày cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo tương ứng với số tiền 350.000 đồng/tháng để nộp ngân sách nhà nước và phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị Hoài A từ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000₫ ( Hai mươi lăm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và tài liệu, đồ vật tạm giữ: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu của bị cáo Vũ Thị Hoài A số tiền 15.141.000 đồng (Mười lăm triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước;
Tịch thu của bị cáo Vũ Thị Hoài A: 02 bút bi màu đen loại Matixs Fo -024; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 túi giả da màu nâu có quai xách đã cũ và 35 mảnh giấy được cắt thành hình chữ nhật có một mặt màu trắng, một mặt có chữ và màu sắc khác nhau để tiêu huỷ;
Tịch thu của: Bị cáo Vũ Thị Hoài A 02 tờ giấy có ghi các số lô, số đề; của anh Nguyễn Mạnh C 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ngày 07/9; anh Nguyễn Hữu N 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ngày 07/9 để lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Vũ Thị Hoài A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo bị bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm được thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 456 của Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định: Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 07/9/2025, tại vỉa hè đường N thuộc khu T, phường N, tỉnh Phú Thọ, Vũ Thị Hoài A đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Hữu N và 15 người khác với tổng số tiền 15.141.000 đồng (Mười lăm triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) thì bị tổ công tác của Công an phường N kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Thị Hoài A phạm tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng cho đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....”
Đối với Nguyễn Mạnh C có hành vi đánh bạc với Vũ Thị Hoài A với số tiền 2.800.000 đồng và Nguyễn Hữu N có hành vi đánh bạc với Vũ Thị Hoài A với số tiền 3.300.000 đồng. Do C và N đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc hành vi tổ chức đánh bạc, gá bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên cơ quan điều tra đã chuyển Công an phường N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đánh bạc của C và N là phù hợp
Đối với 15 người khách khác là khách vãng lai đã mua số lô, số đề của Vũ Thị Hoài A, do A không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của Anh không có tài liệu nào khác chứng minh nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý hành vi đánh bạc trái phép của những người này.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Hơn nữa nó còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trọng khác. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và làm gương cho những ai đã, đang có hành vi tương tự như bị cáo đã phạm. Bị cáo đã bị Toà án xét xử về tội đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nhằm thu lời bất chính nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tặng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Lấn phạm tội này bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố chồng bị cáo là liệt sỹ và đã tích cực ủng hộ Trường G được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc thì chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại điều 36 Bộ luật hình sự dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cùng gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 10/9/2025 là 03 ngày được quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Với mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Tại khoản 3 điều 36 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước....”. Xét thấy bị cáo Vũ Thị Hoài A có thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/ tháng nên cần khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 5% tương ứng với số tiền 350.000 đồng/tháng là phù hợp.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo có tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị và chiếc xe mô tô BKS 19B1 - 112.05 nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ tại phiên toà là phù hợp.
[5]. Về vật chứng và tài liệu, đồ vật tạm giữ:
Đối với số tiền 15.141.000 đồng đang tạm giữ của bị cáo là tiền đánh bạc trái phép ngày 07/9/2025 là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với: 02 bút bi màu đen loại Matixs Fo - 024; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 túi giả da màu nâu có quai xách đã cũ; 35 mảnh giấy được cắt thành hình chữ nhật có một mặt màu trắng thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ;
Đối với 02 tờ giấy có ghi các số lô, số đề thu của bị cáo; 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề thu giữ của anh C; 01 mảnh giấy có ghi các số lô số đề thu của anh N là chứng cứ chứng minh việc bị cáo phạm tội nên cần tịch thu để lưu hồ sơ vụ án.
[6]. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Hoài A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Phú Thọ là phù hợp cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 3 điều 36; điểm a, b khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Căn cứ khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Hoài A phạm tội: “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị Hoài A 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 (Ba) ngày tạm giữ từ ngày 07/9/2025 đến ngày 10/9/2025 được quy đổi bằng 09 (Chín) ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 14 (Mười bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Vũ Thị Hoài A 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- Về xử lý vật chứng và tài liệu, đồ vật tạm giữ:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Giao bị cáo Vũ Thị Hoài A cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Vũ Thị Hoài A có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo Vũ Thị Hoài A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo Vũ Thị Hoài A tương ứng với số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng)/tháng để nộp ngân sách nhà nước và phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tịch thu của bị cáo Vũ Thị Hoài A số tiền 15.141.000 đồng (Mười lăm triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước (Theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 14/10/2025 tại Kho bạc nhà nước khu vực V);
Tịch thu của bị cáo Vũ Thị Hoài A: 02 bút bi màu đen loại Matixs Fo -024; 01 chiếc bàn nhựa màu đỏ; 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ; 01 túi giả da màu nâu có quai xách đã cũ và 35 mảnh giấy được cắt thành hình chữ nhật có một mặt màu trắng, một mặt có chữ và màu sắc khác nhau để tiêu huỷ. (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Phú Thọ ngày 10/10/2025).
Tịch thu của: Bị cáo Vũ Thị Hoài A 02 tờ giấy có ghi các số lô, số đề; của anh Nguyễn Mạnh C 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ngày 07/9; anh Nguyễn Hữu N 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề ngày 07/9 để lưu hồ sơ vụ án.
Buộc bị cáo Vũ Thị Hoài A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hà Thu Hiền |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 22/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ về đánh bạc
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị Hoài A phạm tội: Đánh bạc
