|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 16 - 12 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Phong;
Ông Nguyễn Văn Chuyết.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Duy Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Mạnh T, sinh ngày 08/8/1994 tại tỉnh Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình); Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; Nơi ở: Thôn C, xã X, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Trần Văn T1, sinh năm 1972 và bà Đoàn Thị L, sinh năm 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 26/8/2025 đến ngày 01/9/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Trần Văn K, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Ông Lê Duy Đ, sinh năm 1966. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 26/8/2025, Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ tại thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình phát hiện Trần Mạnh T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn, Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với T, đã phát hiện túi quần đùi phía trước bên phải của T 01 (một) túi zip bằng ni lông trong suốt bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. T khai nhận đây là gói ma tuý đá mua về để sử dụng cá nhân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa T và vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã C để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 túi zip bằng ni lông trong suốt bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu M. 01 mẫu nước tiểu của Trần Mạnh T được niêm phong trong chai nhựa có nắp kín, kí hiệu N.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Mạnh T cùng ngày, Cơ quan điều tra không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 739/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma tuý, loại ma tuý: Methamphetamine, có khối lượng 0,65 gam.
Tại Bản kết luận giám định số 740/KL-KTHS, ngày 31/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy chất Methamphetamine trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Mạnh T khai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/8/2025, T đi bộ từ nhà tại thôn C, xã X, tỉnh Ninh Bình tới khu vực cầu L thuộc thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình với mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đến nơi, T gặp một nam thanh niên khoảng 30 đến 35 tuổi, không rõ lai lịch hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý đá, nam thanh niên này nhận tiền và đưa cho T 01 túi nilon trong suốt có khoá zip bên trong chứa ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý đá, T cất vào túi quần đùi phia trước bên phải mình đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đi đến chân cầu L thì bị Tổ công tác Công an xã C làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần Mạnh T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng; căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamin hoàn lại sau giám định.
Bị cáo thừa nhận đã có hành vi vi phạm pháp luật, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh T khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố và nhận tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 26/8/2025 tại khu vực thôn C, xã C, tỉnh Ninh Bình; Tổ công tác Công an xã C, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang Trần Mạnh T có hành vi cất giấu trong túi quần đùi bên phải đang mặc trên người 01 túi nilon bên trong có chứa 0,65 gam Methaphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó, bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối lỗi; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ở cùng ông bà ngoại và là lao động chính nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế gia đình khó khăn, là đối tượng nghiện ma túy, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Trần Mạnh T vào tháng 06/2025 và nam thanh niên đã bán trái phép chất ma túy cho Trần Mạnh T ngày 26/8/2025 do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra xác định, Trần Mạnh T có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” vào ngày 23/8/2025 tại nơi ở của T thuộc thôn C, xã X, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của Trần Mạnh T không đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025. Do đó, Công an xã C đã chuyển hồ sơ tài liệu cho Công an xã X, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Mạnh T là phù hợp pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025.
- Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Xử phạt Trần Mạnh T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 08 năm 2025.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamin còn lại sau giám định trong 01 túi niêm phong mã số PS3 24266872 của Phòng K1 Công an tỉnh N.
(Vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 16/PTHADSKV9 ngày 25 tháng 11 năm 2025 giữa Công an tỉnh N với của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – Ninh Bình).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Mạnh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Kiên |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
