Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 09 - 2025.

“V/v Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Điệp
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Lan Phương
Bà Nguyễn Thị Phương Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QÐST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vương Thị L, sinh ngày 27/12/1998, Số Căn cước công dân: [...]

Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng.

Hiện đang sinh sống tại: Số nhà F - A K, huyện F, tỉnh Shizuoka, Nhật Bản.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Cường K, sinh ngày 08/04/1994, Số Căn cước công dân: [...]

Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn Đ, xã N, thành phố Hải Phòng.

- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Uỷ quyền giao nhận tài liệu, chứng cứ): Ông Vương Văn T, sinh ngày 24/03/1977, Số Căn cước công dân: [...]; Nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị L và anh Nguyễn Cường K đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Hải Phòng) vào ngày 31/3/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận. Đến khoảng cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, anh K mải chơi, không chịu làm ăn dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Sau đó, do kinh tế khó khăn, tháng 3/2023, chị L có đi lao động tại Nhật Bản, anh K cũng không hỏi han, quan tâm gì đến chị L, hai bên gia đình thông gia cũng không còn qua lại gì với nhau. Chị L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được. đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và đã sống ly thân. Do đó, chị đề nghị Toà án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Cường K.

Về con chung: Anh chị không có con chung, hiện chị cũng không đang mang thai nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nhà đất, nợ chung, ruộng cấy, công sức: Không có, không yêu cầu tòa giải quyết. Đối với khoản tiền chị vay chạy để đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản. Chị sẽ tự làm ăn tích cóp để trả không liên quan đến anh K nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị chỉ về thăm gia đình được một thời gian ngắn do vậy chị ủy quyền cho bố đẻ chị là ông Vương Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn M, xã N, TP Hải Phòng thay mặt chị giao gửi tài liệu cho Tòa án; nhận các văn bản, bản án, quyết định của Tòa án giúp chị. Thay chị trình bày với Tòa án một số ý kiến, quan điểm của chị (nếu có)

Ý kiến của anh Nguyễn Cường K: Anh và chị L trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải Phòng). Sau khi cưới, vợ chồng sống tại gia đình bố mẹ đẻ anh ở thôn Đ. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, do chị L nói anh chơi bời (nói với người khác) và bản thân chị L có người khác. Năm 2023, chị L xuất khẩu lao động sang Nhật Bản, trước khi làm thủ tục đi chị L không nói gì với anh và gia đình nhà chồng, gia đình chị L tự ý chạy cho chị L đi. Thời gian chị L ở N, anh mấy lần gửi đồ Việt Nam sang, việc chị L nói anh mải chơi, không chịu làm ăn là không đúng mà do anh mở cửa hàng điện thoại làm ăn nhưng do C chưa làm ăn được. Sau đó, bố đẻ anh lại mất chứ không phải anh chơi bời, việc anh chị không có con chung có thể là do hiếm muộn chứ bản thân hai vợ chồng mới đi khám chưa điều trị gì. Việc chị L nói vợ chồng cãi nhau thường xuyên là không đúng mà chỉ là cãi nhau những việc nhỏ nhặt vớ vẩn. Chị L chỉ bỏ về nhà mẹ đẻ 1 lần nhưng là do thích về nhà ngoại chơi do lúc đó anh đi chơi không có nhà, chị L buồn nên về nhà chơi. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị L nên không đồng ý ly hôn. Nếu chị L kiên quyết xin ly hôn, đề nghị Toà án căn cứ pháp luật giải quyết.

- Về con chung: anh chị không có con chung, chị L hiện không mang thai nên không yêu cầu giải quyết

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Vợ chồng hiện tại không vay nợ ai, không ai vay nợ vợ chồng và không có tài sản gì chung có giấy tờ. Anh chị chỉ có ít vàng được mọi người cho ngày cưới khoảng 2 cây vàng hiện chị L đã mang về nhà mẹ đẻ. Hiện anh chưa yêu cầu giải quyết. Anh sẽ đồng ý ly hôn khi chị L trả anh ½ số vàng trên.

Tại biên bản lấy lời khai ông Vương Văn T – bố đẻ chị L thể hiện: Ông là bố đẻ của chị Vương Thị L và là bố vợ của anh Nguyễn Cường K. Trước khi kết hôn chị L và anh K có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, TP Hải Phòng) vào ngày 31/3/2019. Gia đình hai bên đã tổ chức đám cưới cho anh K và chị L. Sau ngày cưới, anh K, chị L sinh sống tại gia đình nhà chồng ở thôn Đ. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng có hạnh phúc tuy nhiên sau đó mâu thuẫn nhau. Nguyên nhân chủ yếu theo ông được biết anh K mải chơi, không chịu làm ăn, gia đình cho đi học nghề sửa chữa điện thoại nhưng cũng không làm nghề và hiện tại cũng chưa có công ăn việc làm gì. Vì vậy, chị L, chán nản và nói với ông là con muốn ly hôn. Chị L nói về việc ly hôn từ khoảng hơn 1 năm nay nhưng gia đình động viên để hàn gắn, bảo ban anh K nhưng không được. Vợ chồng nhiều lần cãi nhau rồi bỏ về nhà ông ở, gia đình ông lại động viên chị L lại quay về nhà chồng. Mặt khác, vợ chồng lại không có con chung, ông được biết vợ chồng có đi chữa chạy nhưng do không có kinh tế và do anh K không thiết tha gì nên không chữa chạy nữa từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Năm 2022, gia đình ông có bàn bạc và quyết định lo cho vợ chồng chị L, anh K đi Nhật Bản để cải thiện về kinh tế, anh chị đồng ý nhưng anh K nói để chị L đi trước còn anh K sẽ đi sau. Tuy nhiên, chị L đi được 1 thời gian thì bảo anh K sang xong anh K lại bảo không đi nữa. Mục đích, anh K không đi là do anh K lười lao động, không muốn gần gũi, hàn gắn vợ chồng. Chính vì vậy, chị L và anh K ngày càng mâu thuẫn và ít nói chuyện với nhau và đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Tháng 8/2025, chị L về nước nhưng cũng không về nhà chồng mà ở nhà ông, khi chị L về anh K cũng không đoái hoài đến, không thăm nom gì. Từ ngày chị L đi anh K cũng không qua nhà ông, tết có đến đưa quà cho xong nghĩa vụ rồi lại đi luôn, con trai ông đi bộ đội, ông gọi anh K đến anh K cũng không đến. Điều này, chứng tỏ anh K càng không còn tình cảm với chị L cũng như không còn quan tâm gì đến gia đình ông nữa. Nay chị L xin ly hôn với tư cách làm cha, làm mẹ ông đề nghị Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh K để chị L sớm ổn định cuộc sống. Về con chung: ông được biết chị L, anh K không có con chung, hiện chị L cũng không đang mang thai. Về tài sản chung, nhà đất, nợ chung, ruộng cấy, công sức: theo ông được biết cũng không có. Do chị L đi làm ăn xa, không thể ở nhà để giải quyết vụ án được, chị L ủy quyền cho ông giao nộp tài liệu cho Tòa án, ông nhất trí nhận ủy quyền từ chị L.

- Biên bản lấy lời khai của bà Vũ Thị K1 – mẹ đẻ anh K thể hiện:

Bà là mẹ đẻ của anh K và là mẹ chồng của chị L. Trước khi kết hôn, chị L, anh K có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là xã N, Hải Phòng). Quá trình chung sống chị L, anh K sau khi cưới thì sống tại gia đình bà. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, không có vấn đề gì. Năm 2022, chị L tự ý bàn bạc với gia đình nhà đẻ chị L để chạy đi Nhật Bản mà gia đình bà không hề hay biết. Lúc bay sang Nhật Bản, gia đình bà mới thấy, mới biết, gia đình bà hỏi thì bảo bay gấp. Như vậy, không coi gia đình bà ra gì, không đóng góp gì còn nếu anh K chơi bời thì gia đình nhà bà lo chứ chị L cũng không phải lo. Tháng 8/2025, chị L về nước gia đình bà cũng không biết, không về thăm nom gia đình nhà chồng. Mâu thuẫn vợ chồng theo bà chỉ có mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng cụ thể bà không biết. Có việc chị L bỏ về nhà đẻ mấy ngày xong lại về nhà bà ở. Việc hai con mâu thuẫn, không quan tâm gì đến nhau, gia đình thông gia cũng không bàn bạc với gia đình nhà bà để tháo gỡ. Nay chị L xin ly hôn thì quan điểm của bà là cho chị L, anh K tự quyết định, bà khuyên anh K không ở được với nhau thì ký cho chị L ly hôn nhưng anh K bảo không ký, tự chị L giải quyết.

- Biên bản xác minh với trưởng thôn Đồn Bối, UBND xã N hiện: Chị Vương Thị L và anh Nguyễn Cường K là công dân có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải Phòng) vào ngày 31/3/2019. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn với nhau hay không địa phương không nắm được. Khi làm đơn xin ly hôn, chị L không yêu cầu hoài giải cơ sở nên cũng không biết được lý do, nguyên nhân chính chị L xin ly hôn là gì mà chỉ biết hiện chị L đã xuất khẩu lao động sang nước ngoài còn anh K ở địa phương. Chị L xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Đại diện Viện sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ng 16/5/2024; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án đề nghị HĐXX: Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị L, xử cho chị L được ly hôn với anh K; Về con chung: Không có, không đề nghị giải quyết; Về tài sản chung: Không đề nghị giải quyết; Án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Vương Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Cường K. Anh K có địa chỉ tại thôn Đ, xã N, TP Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 và Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

Chị L và người đại diện theo ủy quyền vắng mặt tại phiên toà và đề nghị xử vắng mặt; anh C1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa những vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị L và anh Nguyễn Cường K tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã N, thành phố Hải Phòng) vào năm 2019 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Căn cứ lời khai của chị L, anh K và những người làm chứng xác định: Sau khi kết hôn được vài năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, bất đồng trong việc làm ăn kinh tế dẫn đến đời sống tình cảm lạnh nhạt, không có tiếng nói chung, gia đình không hạnh phúc. Đến năm 2023, chị L1 xuất khẩu lao động tại Nhật Bản mà gia đình anh K không biết. Sau khi chị L xuất khẩu lao động được một thời gian thì anh chị không còn quan tâm đến nhau, chị L về nước cũng không về nhà anh K, không báo cho anh K và gia đình anh K biết, gia đình có việc hai bên không qua lại. Do đó, có căn cứ xác định anh chị không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Hiện không ai còn quan tâm đến ai và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 - từ lúc chị L đi xuất khẩu lao động cho đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX cần chấp nhận cho chị L được ly hôn anh K theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Không có nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh K có trình bày chị L hiện đang quản lý khoảng 2 cây vàng do được mọi người cho trong ngày cưới. Nếu chị L trả anh ½ số vàng trên anh sẽ đồng ý ly hôn và nếu chị L không trả anh sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết trước khi mở phiên họp ngày 04/9/2025 tuy nhiên anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025, Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vương Thị L được ly hôn anh Nguyễn Cường K

2. Về con chung, tài sản: Không yêu cầu giải quyết

3. Về án phí: Chị Vương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/25E số 0001079 ngày 14/8/2025 (chị L đã nộp đủ án phí).

4. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 9 – Hải Phòng;
  • - THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Nam Sách, TP Hải Phòng(để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 28/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Thị L - Nguyễn Cường Kh ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger