Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10- HẢI PHÒNG

Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2025

“V/v xác định cha cho con"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu.
  2. Bà Đỗ Thị Ái Thương.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Bẩy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2025/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Ngô Thị H, sinh ngày 02/11/1984.
  2. Số căn cước công dân: [...].

    Nơi cư trú: thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố N, phường A, thành phố Hải Phòng).

  3. Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc A, sinh ngày 01/5/1980.
  4. Số căn cước công dân: [...].

    Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là thôn N, xã K, thành phố Hải Phòng).

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Minh Đ, sinh ngày 15/8/1982
  6. Số căn cước công dân: [...].

    Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, phường T, tỉnh Hưng Yên).

Chị H, anh A có mặt. Anh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là chị Ngô Thị H trình bày: Năm 2007, chị kết hôn với anh Hoàng Ngọc A. Ngày 20/12/2023, anh chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 192/2023/QĐST-HNGĐ được Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Sau ly hôn, chị có quan hệ tình cảm với anh Bùi Minh Đ và đến ngày 18/9/2024 sinh một con gái (tên dự sinh là Ngô Hà A1). Khi đến Ủy ban nhân dân xã A làm giấy khai sinh thì được trả lời con sinh trong vòng 300 ngày kể từ ngày ly hôn nên theo quy định phải xác định là con của chồng cũ là anh Hoàng Ngọc A. Ngày 17/11/2024, chị cùng anh Đ đưa con đi giám định ADN. Khi làm thủ tục giám định, chị khai tên dự sinh của cháu là Bùi Đoàn Hà A2. Kết quả giám định đã xác định cháu bé và anh Đ có quan hệ huyết thống cha – con (Phiếu kết quả phân tích ADN số HDI24 38315 ngày 17/11/2024 của Công ty Cổ phần D). Nay chị H xác định cháu Ngô Hà A1 và Bùi Đoàn Hà A2 là một và công nhận anh Đ là cha của cháu (tên dự sinh là Bùi Đoàn Hà A2).

Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Hoàng Ngọc A trình bày: Năm 2007 anh kết hôn với chị H và tháng 12/2023 được Tòa án giải quyết ly hôn. Sau đó, chị H có quan hệ tình cảm với anh Đ và sinh con ngày 18/9/2024. Khi chị H đi làm khai sinh cho con thì cán bộ Ủy ban nhân dân xã trả lời con sinh trong vòng 300 ngày nên phải xác định là con của anh. Nay chị H yêu cầu xác định con là con của anh Đ nhưng anh chỉ đồng ý nếu chị H sang tên cho anh quyền sử dụng đất tại thôn N đang đứng tên chung của anh và chị H. Anh không chấp nhận kết quả giám định ADN ngày 17/11/2024 và xác định cháu bé là con của mình, không yêu cầu giám định lại.

Tại biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Minh Đ trình bày: sau khi biết chị H và anh Ngọc A ly hôn tháng 12/2023, anh có quan hệ tình cảm với chị H và đến ngày 18/9/2024 chị sinh con. Khi làm khai sinh, cán bộ tư pháp cho biết con sinh trong vòng 300 ngày nên phải coi là con chồng cũ (anh Hoàng Ngọc A). Anh đã liên hệ với anh Hoàng Ngọc A nhưng không được anh Ngọc A hợp tác. Ngày 17/11/2024, anh cùng cháu bé đi giám định ADN (lúc đi giám định AND ngày 17/11/2024 chị H lại khai tên dự sinh là Bùi Đoàn Hà A2). Kết quả xác định có quan hệ huyết thống cha – con. Anh xác định cháu Ngô Hà A1 và Bùi Đoàn Hà A2 là một, đề nghị Tòa công nhận anh là cha và lấy tên cháu là Bùi Đoàn Hà A2.

Tại phiên tòa,

Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Anh Ngọc A đề nghị phải có mặt của anh Bùi Minh Đ và vợ chồng giải quyết xong về tài sản chung thì mới đồng ý yêu cầu xác định cha cho con của chị H. Nếu không, anh đề nghị giám định lại đối với anh Đ và cháu bé.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Áp dụng khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 35, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị H: xác định anh Bùi Minh Đ là cha của cháu bé dự định đặt tên trong giấy chứng sinh là Ngô Hà A1 (Bùi Đoàn Hà A2).

- Án phí: chị H được miễn nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: chị Ngô Thị H khởi kiện để xác định cha cho con đối với bị đơn là anh Hoàng Ngọc A có địa chỉ thường trú tại xã T, huyện K (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kim Thành (nay là TAND khu vực 10 - Hải Phòng) theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Đ đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Năm 2007, chị Ngô Thị H kết hôn với anh Hoàng Ngọc A và có 2 con chung là Hoàng G, sinh ngày 03/10/2008 và Hoàng Ngọc Ngô Q, sinh ngày 26/6/2012. Ngày 20/12/2023, anh chị ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 192/2023/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Sau ly hôn, chị H có quan hệ tình cảm với anh Bùi Minh Đ và đến ngày 18/9/2024 sinh một con gái (tên dự sinh là Ngô Hà A1). Khi chị H đến Ủy ban nhân dân xã A làm giấy khai sinh cho cháu Ngô Hà A1 thì cán bộ tư pháp hộ tịch trả lời con sinh trong vòng 300 ngày kể từ ngày ly hôn nên theo quy định phải xác định là con của chị và chồng cũ là anh Hoàng Ngọc A. Ngày 17/11/2024, chị cùng anh Đ đưa con đi giám định ADN. Khi làm thủ tục giám định, chị khai tên dự sinh của cháu là Bùi Đoàn Hà A2. Tại p hiếu kết quả phân tích ADN số HDI24 38315 ngày 17/11/2024 của Công ty Cổ phần D đã xác định cháu bé Bùi Đoàn Hà A2 và anh Đ có quan hệ huyết thống cha – con. Nay chị H xác định cháu Ngô Hà A1 và Bùi Đoàn Hà A2 là một và công nhận anh Đ là cha của cháu (tên dự sinh là Bùi Đoàn Hà A2). Anh Hoàng Ngọc A không đồng ý với kết luận giám định, xác định cháu Hà A2 là con của mình. Anh chỉ đồng ý xác định cháu Hà A2 là con của anh Đ với điều kiện chị H phải sang tên cho anh quyền sử dụng đất hiện mang tên hai anh chị. Việc chị H sang tên quyền sử dụng đất không phải là căn cứ, điều kiện để xác định anh Đ là cha của cháu Hà A2. Tại phiên tòa, anh Hoàng A có yêu cầu Tòa án giám định lại, nhưng không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu giám định của mình là có căn cứ. Vì vậy, yêu cầu của chị H về việc xác định anh Bùi Minh Đ là cha của cháu Bùi Đoàn Hà A2 (tên dự sinh trong giấy chứng sinh là Ngô Hà A1) là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[2.2]. Về án phí: Chị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Yêu cầu của chị H được chấp nhận nên anh Hoàng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2, khoản 4 Điều 35, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật án phí, lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

X: chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị H.

Xác định anh Anh Bùi Minh Đ, sinh ngày 15/8/1982; số căn cước công dân: [...]; Địa chỉ: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (nay là thôn T, phường T, tỉnh Hưng Yên) là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Ngô Hà A1 (Bùi Đoàn Hà A2) do chị Ngô Thị Hà S ra vào lúc 14 giờ 10 phút ngày 18/9/2024 tại Bệnh viện P, giới tính Nữ, theo giấy chứng sinh số 008592, quyển số 86, ngày 18/9/2024 của Bệnh viện P.

3. Về án phí: chị Ngô Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh Hoàng Ngọc A phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 10- Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường An Phong, TP. Hải Phòng;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG về v/v xác định cha cho con

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: V/v xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Ngô Thị H yêu cầu xác định anh A là cha của cháu B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger