TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 19-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Kim Dũng
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hưng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị H; có vợ là Phạm Thị Phương A và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 35/2011/HSST ngày 31/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01-10-2025; có mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Xuân D, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn K, xã K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C có giấy phép lái xe hạng FC. Khoảng 12 giờ ngày 10/4/2025, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36C-136.77 chở hàng hộ anh Nguyễn Văn T đi trên đường gom cao tốc 5B (Hà Nội - Hải Phòng), theo hướng từ đường 361 về đường C, với tốc độ khoảng 40km/h. Xe của C vừa đi qua khu vực gờ giảm tốc, cách ngã tư giao nhau giữa đường gom và đường hầm cao tốc thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K (nay là thôn Đ, xã K), thành phố Hải Phòng khoảng 30m, C bấm còi và không giảm tốc độ xe thì va chạm với xe ô tô tải thùng biển kiểm soát 15C-293.15 do anh Hoàng Xuân D, sinh năm 1987, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K (nay là thôn Đ, xã K), thành phố Hải Phòng điều khiển đi trên đường D từ hướng thôn T đến thôn Đ, xã K, Hải Phòng qua gầm cầu đường cao tốc. Hậu quả, anh D bị thương tích, phải điều trị tại bệnh viện, 02 phương tiện bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường xác định: đường gom cao tốc 5B (hướng T - Đ) trước khi vào ngã tư có 03 nhóm vạch gờ giảm tốc, cắm biển chỉ dẫn W.205 (giao nhau với đường cùng cấp) phía bên tay phải theo chiều di chuyển. Trên đường 401 từ hầm chui đi (hướng N - B) trước khi vào ngã tư có cắm biển “STOP” bên phải đường theo chiều di chuyển. Tại khu vực ngã tư giao cắt phần lòng đường trải nhựa bằng phẳng, lòng đường gom cao tốc trước khi vào ngã tư rộng 4,4m, đường 401 đoạn qua hầm chui cao tốc 5B hướng về ngã tư rộng 7m. Chọn cột biển báo W.205 trên đường gom cao tốc 5B theo chiều từ đường 361 đến ngã tư giao cắt với đường D làm mốc cố định và mép đường gom cao tốc 5B phía Bắc là mép đường chuẩn. Hiện trường để lại một số dấu vết như sau: Dấu vết bám dính tạp chất màu đen trên mặt đường - dấu phanh 1, kích thước 10 x 0,19(m), điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 1,3m, cách mốc cố định là 40m, điểm cuối vết nằm trên mép đường chuẩn. Dấu vết bám dính tạp chất màu đen trên mặt đường - dấu phanh 2, kích thước 13,3 x 0,09(m), điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 1,6m, điểm cuối vết nằm dưới bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 15C - 293.15. Xe ô tô biển kiểm soát 15C - 293.15 đỗ trên đường gom cao tốc phía đường ngã tư giao cắt đi đường C, đầu xe quay hướng Đông Nam, trục bánh sau bên trái cách mép đường chuẩn là 2,8m, cách đầu vết 2 là 9,8m, trục trước bánh xe bên trái cách mép đường chuẩn 3,1m. Xe ô tô biển kiểm soát 36C - 136.77 đỗ tại khu lề đường gom cao tốc phía sau ngã tư giao cắt, hướng đi đường C, đầu xe quay hướng Đông Bắc, trục sau bên phải xe cách mép đường chuẩn 0,7m, trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 1,2m, cách trục trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 15C - 293.15 là 5,2m.
Khám nghiệm các phương tiện: Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 15C-293.15 thể hiện: kính chắn gió phía trước bị vỡ vụn, rạn nứt theo chiều từ trái sang phải (từ bên lái sang bên phụ), kích thước 130 x 163 (cm), tâm vết cách mặt đất 144 cm. Kính chắn gió của xe bên trái bị vỡ vụn, rơi rụng hoàn toàn, kích thước 70 x 40 (cm). Cửa xe bên trái và thân xe liền kề phía trước bị dồn ép, xô lệch biến dạng kim loại, bề mặt trượt xước sơn màu trắng, bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn), màu nâu đỏ (dạng rỉ sét) theo chiều từ trái qua phải (từ bên lái qua bên phụ), kích thước rải rác trong diện 130 x 73 (cm), tâm vết cách đất 70 cm.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 36C-136.77 thể hiện: kính chắn gió phía trước bị vỡ trong diện 190 x 80 (cm), vị trí thấp nhất cách mặt đất 190 cm. Kính chắn gió của xe bên phải (bên phụ) bị vỡ, kích thước 95 x 70 (cm), vị trí thấp nhất cách mặt đất 175 cm. Gương chiếu hậu bên phải bị vỡ khuyết bung bật nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính tạp chất màu đen, kích thước trong diện 63 x 22 (cm), tâm vết cách mặt đất 175 cm. Ốp nhựa bảo vệ đầu xe, mặt vô lăng bị vỡ khuyết, kích thước rải rác trong diện 220 x 8 (cm), tâm vết cách mặt đất 140 cm.
Tại bản Kết luận giám định số 1284/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết cong gập, móp méo biến dạng kim loại, bề mặt phía ngoài bị trượt xước, bong tróc mất sơn (màu xanh) bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau, từ phải sang trái (từ bên phụ sang bên lái) ở đầu ngoài cản trước bên phải trên xe ôtô mang biển kiểm soát 36C - 136.77 phù hợp với dấu vết bẹp méo, cong vênh biến dạng kim loại, bề mặt phía ngoài bị trượt xước mất sơn (màu trắng), bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ ngoài vào trong, từ trái sang phải (từ bên lái sang bên phụ) ở mặt ngoài cánh cửa xe bên trái trên xe ôtô mang biển kiểm soát 15C - 293.15. Dấu vết trên xe ôtô mang biển kiểm soát 36C - 136.77 và xe ôtô mang biển kiểm soát 15C - 293.15 ở các vị trí này có đặc điểm giống với đặc điểm của dấu vết được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau. Xe ôtô mang biển kiểm soát 36C - 136.77 đâm vào xe ôtô mang biển kiểm soát 15C - 293.15".
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 362/2025/KLTgTHS-TTPYHP ngày 07/7/2025 của Trung tâm P1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Xuân D qua hồ sơ là 80%.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 01/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô tải tự đổ biển kiểm soát 36C - 136.77 là 25.636.000 đồng; Giá trị thiệt hại của xe ô tô tải thùng kín biển kiểm sát 15C - 293.15 là 28.320.700 đồng
Tại bản Kết luận giám định số 3580/KL-KTHS ngày 19/11/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trên tập tin "MOVA7531.avi" dung lượng 320 MB, mã MD5: 326AED1996C7344FCDAC7652146BB1A7 được lưu trong USB nhãn hiệu KINGSTON 16GB đã qua sử dụng (Ký hiệu A). Tốc độ ước tính của phương tiện gắn thiết bị ghi hình khi di chuyển trên đường gom cao tốc trong khu vực gờ giảm tốc số I đến gờ giảm tốc số II ứng với quãng đường 16m trong khoảng 45,85 km/h đến 48,34 km/h. Tốc độ ước tính của phương tiện gắn thiết bị ghi hình khi di chuyển trên đường gom cao tốc trong khu vực gờ giảm tốc số II đến gờ giảm tốc số III ứng với quãng đường 13,6m trong khoảng 42,38 km/h đến 45,2 km/h”
Kết quả kiểm tra hơi thở của Nguyễn Văn C không có nồng độ cồn, không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Nguyễn Văn C. Phiếu kết quả xét nghiệm đối với Hoàng Xuân D thể hiện âm tính với ma túy, định lượng Ethanol <8.11
Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Hoàng Xuân D 100.000.000 đồng, anh D không có yêu cầu gì khác và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đối với những hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 36C - 136.77 và xe ô tô biển kiểm soát 15C - 293.15, các chủ sở hữu đều không có yêu cầu, đề nghị gì.
Vật chứng: Phòng C1 Công an thành phố H đã trả lại 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 36C - 136.77 và 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 15C - 293.15 cho chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 15000011, 01 giấy chứng nhận kiểm định số DC0000671 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của xe ô tô biển kiểm soát 15C-293.15 cho anh Hoàng Xuân D. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng FC số [...] ngày 22/11/2024 mang tên Nguyễn Văn C, chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hải Phòng quản lý.
Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 28-11-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn C về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C với mức án từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn C. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 10/4/2025, tại ngã tư giao nhau giữa đường gom và đường hầm cao tốc Hà Nội - Hải Phòng thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện K (nay là thôn Đ, xã K), thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn C không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, điều khiển xe ô tô đi đến khu vực nơi đường bộ giao nhau cùng mức, có vạch sơn giảm tốc độ, biển báo đường giao nhau đã không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải, không quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn, dẫn đến xảy ra va chạm với xe ô tô do anh Hoàng Xuân D điều khiển. Hậu quả, anh D bị thương tích, tổn thương cơ thể là 80%. Bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 11, Điều 12, Điều 22 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Điều luật quy định:
Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ
“1. Báo hiệu đường bộ bao gồm: ... biển báo hiệu đường bộ; vạch kẻ đường và các dấu hiệu khác trên mặt đường; ...”
Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe
“3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:
d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ, ...”
Điều 22. Nhường đường tại nơi đường giao nhau
“Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:
2. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải.”
Hành vi của bị cáo vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả tổn thương cơ thể bị hại là 80%, đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi khi sang đường không chấp hành biển báo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt đối với các bị cáo:
[5.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội, do vậy cần phải xử lý nghiêm. Song khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét tới nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5.2] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, bị hại cũng có một phần lỗi, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; gia đình bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Vì vậy, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, tạo cơ hội cho bị cáo rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ còn bị khấu trừ thu nhập song xét hoàn cảnh bị cáo kinh tế khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[5.3] Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì khác; đối với những hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 36C - 136.77 và xe ô tô biển kiểm soát 15C - 293.15, các chủ sở hữu đều không có yêu cầu, đề nghị gì khác về phần dân sự nên không phải xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Phòng C1 Công an thành phố H đã trả lại 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 36C - 136.77, 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 15C - 293.15 cho chủ sử hữu; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ moóc, sơ mi rơ moóc số 15000011, 01 giấy chứng nhận kiểm định số DC0000671 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của xe ô tô biển kiểm soát 15C-293.15 cho anh D nên Hội đồng xét xử không xem xét. Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hải Phòng quản lý 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn C là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án được tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Hủy bỏ lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Người chấp hành án phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự. Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Luật Thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn Văn C, theo Biên bản giao vật chứng ngày 28/11/2025 giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hải Phòng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Dung |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C - VI phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
