Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - SƠN LA

Bản án số: 46/2025/HS-ST.

Ngày: 11-12-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Giàng Thị Máy và ông Nguyễn Thành Vương

Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST- ST ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

Sùng A C;

tên gọi khác: không; sinh năm 2000; tại xã M, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Bản Ú, xã M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A P, sinh năm: 1967 và bà Ma Thị D, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Bị cáo Sùng A C đang bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực V từ ngày 06/8/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ban Q. Do ông Phạm Quang C1 – Giám đốc làm đại diện. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh C2 – Phó Giám đốc. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu đất canh tác Thời gian đầu tháng 3 năm 2020 (không nhớ rõ ngày), Sùng A P, sinh năm: 1967, cư trú tại: Bản Ú, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (nay là bản Ú, xã M, tỉnh Thanh Hóa) rủ Sùng A C đi đến khu rừng đặc dụng thuộc bản S, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La (nay là bản S, xã X, tỉnh Sơn La) chặt phá cây rừng để lấy đất canh tác, trồng trọt. Phể và C mang theo 04 con dao và 01 chiếc cưa sắt đi đến khu rừng đặc dụng thuộc bản S, xã T, tỉnh Sơn La, sử dụng dao, cưa chặt phá cây rừng trong khoảng thời gian 10 ngày với diện tích rừng bị chặt phá hơn 7.000 m² thì nghỉ đi về nhà đợi cây gỗ khô sẽ đến dọn, đốt để lấy đất trồng trọt. Từ ngày 28/4/2020 đến ngày 29/4/2020 Sùng A C mang theo bật lửa, dao đi đến diện tích rừng đã chặt phá để thu gọn, đốt những cây khô, trong khi C dọn dẹp đốt nương thì có Giàng Thị D1, sinh năm: 2004, cư trú: Bản Hộc, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa (Là bạn gái của C) mang cơm đến cho C. Khoảng 08h ngày 29/4/2020 khi C đang thu dọn rừng đã phát thì bị tổ công tác Hạt kiểm lâm R phối hợp với Công an xã T, huyện V đi kiểm tra, phát hiện, lập biên bản, thu giữ của Sùng A C 04 con dao, 01 chiếc cưa lưỡi bằng kim loại có tay kéo bằng gỗ dài 60cm.

Ngày 22/4/2020, Hạt kiểm lâm R và Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Sùng A C chặt phá rừng: Hiện trường được xác định là khu rừng đặc dụng thuộc bản S, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La. Phía Bắc tiếp giáp với khu đất, rừng cộng đồng bản Sa Lai, xã T, huyện V. Phía Nam tiếp giáp với đất ruộng và dân cư bản Sa Lai, xã T, huyện V. Phía Đông tiếp giáp với khu dân cư trung tâm bản Sa Lai, xã T. Phía Tây tiếp giáp với khu dân cư bản Ún, xã M, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện trường cụ thể: Được xác định là thuộc T, khoảnh 1, lô 48,50,33, rừng đặc dụng thuộc bản S, xã T, huyện V, tỉnh Sơn La. Khu rừng nằm trên sườn núi dốc theo hướng T - Đ và hướng Bắc – Nam, độ dốc trung bình 15%. Trên diện tích rừng bị chặt phá đốt có nhiều gốc cây bị chặt phá trơ phần thân, gốc trên mặt đất, nhiều thân cây gỗ đang ở hiện trường xen lẫn thân và gốc cây tre. Ngoài ra trên bề mặt có nhiều tàn tro, muội than đen ở hiện trường. Sử dụng máy định vị chuyên dụng GPS nhãn hiệu GAR MIN 78S, đo đạc, xác định diện tích rừng đặc dụng bị thiệt hại tại các lô 48, 50, 33. Tổng diện tích rừng bị hủy hoại là 7.470 m²; tổng số cây rừng bị chặt phá là 83 cây gỗ, 133 cây tre.

Ngày 02/5/2020, Hạt kiểm lâm R đã quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Hủy hoại rừng. Cùng ngày VKSND huyện Vân Hồ đã quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 25/5/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành cho Sùng A P xác định vị trí đã chặt phá rừng. Kết quả Sùng A P xác định vị trí đã chặt phá rừng phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/4/2020.

Ngày 16/6/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện V định giá 83 cây gỗ, 133 cây tre và thiệt hại về rừng bị Sùng A P và Sùng A C chặt phá. Tại kết luận định giá tài sản số 10 ngày 10/6/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện V kết luận giá trị lâm sản rừng thiệt hại là 36.245.000 đồng, thiệt hại đối với rừng là 49.048.767 đồng, tổng cộng làm tròn là 85.293.000 đồng.

Sau khi thực hiện hành vi hủy hoại rừng Sùng A C đã bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh làm thuê và sinh sống. Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La đã ra Quyết định truy nã số 04 ngày 04/8/2020 đến ngày 06/8/2025 Sùng A C bị bắt theo quyết định truy nã.

Đối với Sùng A P, ngày 16/6/2020, của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Sơn La đã quyết định khởi tố bị can, ra Lệnh bắt bị can để tạm giam. Hết thời hạn điều tra nhưng chưa bắt được Sùng A C nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án, bị can ra để kết thúc điều tra, truy tố và xét xử. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 35/2021/HSST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã tuyên phạt Sùng A P 07 năm tù về tội Hủy hoại rừng và phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 85.293.000 đồng. Đối với phần bồi thường dân sự và xử lý vật chứng của vụ án đã được giải quyết trong Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2021/HSST ngày 03/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 24/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La truy tố bị cáo về tội Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 243 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, phù hợp kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả định giá tài sản.

Người đại diện theo ủy quyền của Ban Q nhất trí với lời khai phạm tội của bị cáo, nhất trí với biên bản khám nghiệm hiện trường và kết quả định giá. Số tiền thiệt hại tổng là 85.293.000đ, Ban quản lý đã yêu cầu bị cáo Sùng A P bồi thường trong bản án trước. Do đó, không yêu cầu bị cáo bồi thường trong bản án này, nếu có xảy ra tranh chấp Ban quản lý sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án dân sự khác.

Bị cáo nhất trí với ý kiến của Ban Q.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 243, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội: Hủy hoại rừng.
  • Xử phạt bị cáo Sùng A C từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về dân sự: Không đề cập giải quyết trong vụ án này.
  • Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Cơ bản nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX áp dụng thêm Điều 58 của Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là 7 năm tù. Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung thêm.

- Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Điều luật đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo. Đối với đề nghị của Luật sư áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

- Ý kiến của bị hại: Nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên liên, không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo thành công dân có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, Bị hại không có ý kiến gì về hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Sùng A C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc hủy hoại rừng đặc dụng là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là rất nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, xâm phạm đến công tác quản lý và bảo vệ rừng của nhà nước. Ý thức được điều đó nhưng chỉ vì không có đất canh tác Sùng A C đã cùng Sùng A P có hành vi huỷ hoại 7.470m² rừng đặc dụng, gây thiệt hại về lâm sản và thiệt hại về rừng là 85.293.000đ.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Hủy hoại rừng theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 243 Bộ luật hình sự.

[3]. Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đác biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò đồng phạm: Bị cáo bị bố là Sùng A P rủ chặt phá rừng trái phép, do đó bị cáo cùng Sùng A P là đồng phạm. Bị cáo Sùng A P1 giữ vai trò chính. Do đó, khi lượng hình cần cân nhắc có mức án phù hợp với bị cáo.

[4]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo:

Kiểm sát viên luận tội đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 3 Điều 243, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội: Hủy hoại rừng, xử phạt bị cáo Sùng A C từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù. Vị Luật sư bào chữa cho bị cáo cơ bản nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 07 năm tù.

Đối với tội danh, điều luật mà Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa đề nghị là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận. Tuy nhiên trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án bị cáo Sùng A C đã bỏ trốn và bị Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định truy nã. Từ tháng 8 năm 2020, bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, không chấp hành giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, cũng không tự giác ra đầu thú. Ngày 06/8/2025, bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã. Do đó, mức hình phạt mà kiểm sát viên và Luật sư đề nghị là không đủ sức răn đe với hành vi phạm tội của bị cáo, cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

Đối với đề nghị áp dụng Điều 58 của Luật sư là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

[5]. Vấn đề liên quan khác:

Đối với Giàng Thị D1. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Sùng A C nên không đề cập đến biện pháp xử lý.

[6]. Về dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, do đã được giải quyết thỏa đáng trong bản án số 35/2021/HS-ST ngày 03/02/2021của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ.

[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Thuộc đối tượng được miễn án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 243, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
    • - Tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội: Hủy hoại rừng. Xử phạt bị cáo Sùng A C 8 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2025.
  2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh;
  • - VKSND khu vực 6 – Sơn La (02 bản);
  • - Công an;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - UBND xã;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Phương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hủy hoại rừng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger