Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/9/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Quang Tình

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương

Bà Lê Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị P, sinh năm 1993

Địa chỉ: Khối T, phường Q, (phường Q, thị xã H cũ), tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

Số CCCD : [...]

- Bị đơn: Anh Hồ Văn L, sinh năm 1992

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối T, phường Q, (phường Q, thị xã H cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Số CCCD : [...]

Hiện không sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam (đã được tống đạt hợp lệ các văn bản về việc mở phiên tòa lần thứ hai bằng phương thức niêm yết công khai tại nơi cư trú trước khi xuất cảnh).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1971 (mẹ đẻ của anh Hồ Văn L); địa chỉ: Khối T, phường Q, (phường Q, thị xã H cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Hồ Thị P trình bày:

Chị và anh Hồ Văn L kết hôn ngày 03/01/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã H (nay là UBND phường Q, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đầu năm 2025, anh Hồ Văn L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng thường xuyên liên lạc điện thoại với nhau, sau dần phai nhạt, không còn liên lạc quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị P nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không cò thương yêu anh L nữa và xin được ly hôn.

Vợ chồng có 3 con chung: Hồ Linh Đ, sinh ngày 28/7/2014 (hiện đang ở với chị P); Hồ Thị Minh A, sinh ngày 16/7/2017 và Hồ Văn Minh Đ1, sinh ngày 07/4/2019 (hiện đang ở với bố mẹ anh L). Ly hôn, chị xin trực tiếp nuôi dưỡng ba con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, riêng và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Văn L: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần thông báo, triệu tập anh Hồ Văn L đến viết bản tự khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Hồ Văn L vắng mặt không có lý do. Anh L hiện đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan không rỏ địa chỉ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ anh L) trình bày:

Anh Hồ văn L hiện đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, thường xuyên liên lạc điện thoại với bà nhưng không nói rỏ địa chỉ cụ thể ở đâu. Sau khi bà nhận được giấy triệu tập, thông báo của Toà án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo gửi cho anh L, bà đều thông báo cho anh L biết nhưng anh L cũng không có ý kiến gì. Về tình cảm vợ chồng, nguyện vọng anh L mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng nếu chị P kiên quyết xin ly hôn, anh L cũng nhất trí.

Anh Hồ Văn L và chị Hồ Thị P có ba con chung là Hồ Linh Đ, sinh ngày 28/7/2014 (hiện đang ở với chị P), Hồ Thị Minh A, sinh ngày 16/7/2017 và Hồ Văn Minh Đ1, sinh ngày 07/4/2019 (Hiện đang ở với bà). Nguyện vong của anh L xin được nuôi hai con chung là A và Đ1, để con chung là Đ cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu chị P không nhất trí và xin được nuôi 3 con chung thì anh L cũng nhất trí.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hồ Thị P được ly hôn với anh Hồ Văn L.

Về con chung: Giao 3 con chung Hồ Linh Đ, sinh ngày 28/7/2014; Hồ Thị Minh A, sinh ngày 16/7/2017 và Hồ Văn Minh Đ1, sinh ngày 07/4/2019 cho chị Hồ Thị P trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, phân chia tài sản chung, riêng và nợ nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Hồ Thị P phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Hồ Thị P với bị đơn anh Hồ Văn L.

Anh Hồ Văn L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh tại khối T, phường Q (phường Q, thị xã H cũ), tỉnh Nghệ An. Theo văn bản số 3619/PA08-D1 ngày 29/8/2025 của phòng Q, Công an tỉnh N cho biết, anh Hồ Văn L đã xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay N ngày 01/3/2025 đến nay chưa nhập cảnh, nên Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh L không đến Tòa án. Chị Hồ Thị P có đơn xin giải quyết, xét xử vụ án vắng. Do vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử không tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng pháp luật theo quy định tại khoản 1 điều 207 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị P và anh Hồ Văn L lấy nhau có đăng kết hôn ngày 03/01/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, thị xã H (nay là UBND phường Q, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ các điều kiện kết hôn theo luật định. Cuộc sống chung do vợ chồng xa cách, anh L đi xuất khẩu lao động nước ngoài, chị P ở nhà nhưng hai bên không còn liên lạc quan tâm gì đến nhau nữa. Gia đình, người thân khuyên bàn nhưng chị P vẫn nhất quyết xin ly hôn. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên áp dụng điều 51, điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hồ Thị P được ly hôn anh Hồ Văn L như quan điểm kiên sát viên đã đề nghị là có căn cứ.

[4] Về con chung: Chị P và anh L đã có ba con chung là Hồ Linh Đ, sinh ngày 28/7/2014, Hồ Thị Minh A, sinh ngày 16/7/2017 và Hồ Văn Minh Đ1, sinh ngày 07/4/2019. Anh L hiên nay đang đi xuất khẩu lao động nước ngoài không rỏ địa chỉ cụ thể, nguyện vọng của chị P xin được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 3 con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyên, chính đáng, nghĩ nên chấp nhận.

[5] Tài sản chung, riêng và nợ: Chị P không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: Cho chị Hồ Thị P được ly hôn anh Hồ Văn L.

Về con : Giao ba con chung là Hồ Linh Đ, sinh ngày 28/7/2014, Hồ Thị Minh A, sinh ngày 16/7/2017 và Hồ Văn Minh Đ1, sinh ngày 07/4/2019 cho chị Hồ Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tạm hoạn cấp dưỡng nuôi con cho anh Hồ Văn L vì chị P không yêu cầu.

Anh Hồ Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm cản trở.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án dân sự độc lập khác.

Án phí: Buộc chị Hồ Thị P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Hồ Thị P đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004202 ngày 28/7/2025 tại Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn, người có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND khu vực 4
  • - THADS tỉnh Nghệ an
  • - UBND (nơi thực hiện việc ĐKKH)
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lý Quang Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger