TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày 27 - 9 - 2025 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Hằng.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Khu Vực 6, tỉnh Lào Cai.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu Vực 6, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Mỹ D - Sinh năm 1999.
- Bị đơn: Anh Lương Thế T - Sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn T, xã G, tỉnh Lào Cai - (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã G, tỉnh Lào Cai - (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2025 và bản tự khai ngày 19/8/2025 của chị Ngô Thị Mỹ D trình bầy: Chị và anh Lương Thế T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 14/11/2018, tại UBND xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai (Nay là UBND xã G, tỉnh Lào Cai). Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh T bị tai nạn giao thông và bị trấn thương sọ não, sau khi chữa trị trở về nhà chị nhận thấy tính cách anh T thay đổi nên vợ chồng xẩy ra xô sát cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng chị đã được hai bên gia đình tham gia khuyên bảo nhiều lần nhưng không khắc phục được, do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lương Thế T.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T không có con chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, khi ly hôn chị không yêu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai vay mượn gì, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lương Thế T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T không có văn bản trả lời đối với yêu cầu của người khởi kiện. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh T nhất trí ly hôn với chị D, vì tình cảm vợ chồng không còn.
Đối với vụ án này Tòa án đã mở phiên họp công khai chứng cứ, không hòa giải được về quan hệ hôn nhân, vì vắng mặt bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Ngô Thị Mỹ D khởi kiện xin ly hôn với anh Lương Thế T đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị D và anh T đều đăng ký hộ khẩu tại xã G, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Lương Thế T có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được chính quyền địa phương xác nhận, nội dung mâu thuẫn của vợ chồng như chị D trình bày là đúng.
Tại phiên toà hôm nay, chị Ngô Thị Mỹ D có đơn xin xét xử vắng mặt; tại đơn xin xét xử vắng mặt chị D vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Lương Thế T.
Đối với anh Lương Thế T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn xin xét xử vắng mặt anh nhất trí ly hôn với chị Ngô Thị Mỹ D, vì tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy xét yêu cầu ly hôn của chị D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình xử cho chị Ngô Thị Mỹ D ly hôn anh Lương Thế T là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị Ngô Thị Mỹ D và anh Lương Thế T không có con chung, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị D xác nhận vợ chồng chị không có tài sản chung và không có công nợ chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Ngô Thị Mỹ D phải chịu tòa bộ tiền án phí ly hôn theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về án phí:
Cho chị Ngô Thị Mỹ D ly hôn anh Lương Thế T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị Mỹ D và anh Lương Thế T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Chị Ngô Thị Mỹ D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000677 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh L; chị Ngô Thị Mỹ D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lìn Thị Lài |
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI về ly hôn
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Mỹ D ly hôn Lương Thế T
