Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 451/2025/DS-ST

Ngày 26.9.2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga

Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Minh Trinh

- Ông Đặng Công Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 98/2025/TLST-DS ngày 03.3.2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QÐST-DS ngày 08.8.2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QÐST-DS ngày 28.8.2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 98/TB-TA ngày 10.9.2025 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (BV B1). Địa chỉ: Tòa nhà H, D N, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – Chức danh: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 và Ông Lê Việt H (Theo văn bản uỷ quyền số 78/25/BVBank/UQ-QL&THN ngày 21.01.2025). Địa chỉ liên lạc: 267 - B N, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Văn T1 có mặt.

- Bị đơn: Bà Bùi Thị Kim P, sinh năm 1987 và ông Nguyễn Trung H1, sinh năm 1987. Cùng địa chỉ: H (K442) H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Trung H1 ủy quyền cho bà Bùi Thị Kim P tham gia tố tụng theo Giấy ủy quyền ngày 11.9.2025. (Bà Bùi Thị Kim P có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Dự H2bà Bùi Thị Kim L. Cùng địa chỉ: H (K442) H, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21.01.2025, bản tự khai ngày 26.9.2025 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Bà Bùi Thị Kim P và ông Nguyễn Trung H1 có ký với Ngân Hàng TMCP B (viết tắt là BV B1) Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018 chi tiết như sau: Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bù đắp chi phí mua BĐS; Thời hạn vay: 180 tháng; Lãi suất cho vay được quy định tại giấy nhận nợ số: 01/0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay nêu trên bà Bùi Thị Kim P, ông Nguyễn Trung H1 đã ký với BV B1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: 0441/00518/01A-HĐTC.QSDĐ.CN ngày 07/8/2018. Tài sản thế chấp là Toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà, công trình xây dựng khác, rừng trồng, vườn cây, các tài sản khác gắn liền với đất (kể cả trường hợp tài sản này hình thành trong tương lai) và các phần diện tích quyền sử dụng đất không được pháp luật công nhận (nếu có) tại thửa đất số 522, 573 tờ bản đồ số 15, địa chỉ: phường B và thửa đất số 574, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: H - K442 H, phường B, quận H, TP Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BC298528, số vào sổ cấp GCN CH00204 do UBND quận H, TP Đà Nẵng cấp ngày 26/8/2010, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 bà Bùi Thị Kim P ngày 06/08/2018.

Đến nay, mặc dù thời hạn hợp đồng chưa hết nhưng do bà Bùi Thị Kim P, ông Nguyễn Trung H1 vi phạm thỏa thuận về nghĩa vụ thanh toán được quy định tại hợp đồng đã ký với BV B1 nên BV B1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bà Bùi Thị Kim P và ông Nguyễn Trung H1 phải thanh toán nợ. Tính đến thời điểm ngày 26/09/2025 số tiền nợ gốc, lãi mà BV B1 yêu cầu bà Bùi Thị Kim P, ông Nguyễn Trung H1 phải thanh toán là 843.632.982 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 655.900.000 đồng; Lãi trong hạn: 149.174.750 đồng; Lãi phạt chậm lãi: 15.364.098 đồng; Lãi quá hạn: 23.194.134 đồng. Bà Bùi Thị Kim P và ông Nguyễn Trung H1 phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 27/09/2025 cho đến khi trả hết nợ theo qui định tại hợp đồng tín dụng đã ký với BV B1.

Trường hợp bà Bùi Thị Kim P, ông Nguyễn Trung H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán thì BV B1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: 0441/00518/01A-HĐTC.QSDĐ.CN ngày 07/8/2018 để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

* Bị đơn là bà Bùi Thị Kim P đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Trung H1 trình bày: Thống nhất phần trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B. Bà xác nhận bà và chồng là ông Nguyễn Trung H1 có ký với Ngân hàng TMCP B Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018. Số tiền vay, mục đích vay vốn, thời hạn vay và lãi suất, kỳ điều chỉnh lãi suất như Ngân hàng trình bày. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là: Nhà ở và đất ở tại thửa đất số 522,573, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: phường B và thửa đất số 574, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: H - K442 H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BC298528, số vào sổ cấp GCN CH00204 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26/8/2010. Tại phiên tòa bà Bùi Thị Kim P xác nhận vợ chồng bà có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm tính đến ngày 26/9/2025 là: 843.632.982 đồng. Tuy nhiên bà đề nghị Ngân hàng G thêm thời gian để ông bà xử lý tài sản trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông bà không trả được nợ theo yêu cầu của Ngân hàng thì ông bà đồng ý xử lý tài sản thế chấp nêu trên để Ngân hàng thu hồi toàn bộ khoản nợ.

* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đỗ Dự H2 và bà Bùi Thị Kim L để lấy lời khai và tham gia hoà giải nhưng ông H2, bà L vắng mặt không có lý do và cũng không gửi ý kiến, nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/09/2025 là: 843.632.982 đồng. Lãi suất được tiếp tục tính từ ngày 27/9/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng được ký giữa các bên cho đến khi ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP B với Ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Dự H2 và bà Bùi Thị Kim L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Ngân hàng TMCP B khởi kiện ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P yêu cầu trả tiền vốn vay, lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng (mục đích vay vốn là vay mua bất động sản), trong trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P không trả được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018 giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015

[3.2] Căn cứ vào thỏa thuận của các bên tại Điều 4 Hợp đồng tín dụng và Điều 6, Điều 7 Giấy nhận nợ ngày 07.8.2025 thì ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 26.9.2025 nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, do ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp với quy định pháp luật.

[3.3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp của Ngân hàng: Để đảm bảo các khoản nợ vay, Ngân hàng cùng ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P đã ký Hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản của ông H1, bà P. Hợp đồng đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Xét nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp trên là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng. Trong trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P không trả được nợ thì tài sản thế chấp sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018 được ký giữa các bên cho đến khi ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P thanh toán hết nợ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.

[4] Sau khi ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP B phải hoàn trả cho ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BC298528, số vào sổ cấp GCN CH00204 do UBND quận H, TP.Đà Nẵng cấp ngày 26/8/2010, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 bà Bùi Thị Kim P ngày 06/08/2018.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) Ngân hàng đã tạm nộp và đã chi phí xong nên cần buộc bị đơn là ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đà Nẵng tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và đề xuất về nội dung là đúng các quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ Luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ các Điều 299, 322, 323, 463 và Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP B đối với ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P.

Xử:

1. Buộc ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tính đến ngày 26/9/2025: 843.632.982 đồng (T2 trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm ba mươi hai nghìn, chín trăm tám mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc: 655.900.000 đồng; Lãi trong hạn: 149.174.750 đồng; Lãi phạt chậm lãi: 15.364.098 đồng; Lãi quá hạn: 23.194.134 đồng.

Lãi suất được tiếp tục tính từ ngày 27/9/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần khách hàng cá nhân số 0635/00518/TDTL-CN ngày 07/08/2018 được ký giữa các bên cho đến khi ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P thanh toán hết nợ.

Sau khi ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP B phải hoàn trả cho ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BC298528, số vào sổ cấp GCN CH00204 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26/8/2010, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 bà Bùi Thị Kim P ngày 06/08/2018.

2. Trường hợp ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P không trả nợ cho Ngân hàng TMCP B thì tài sản thế chấp sau đây được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng TMCP B thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi: Quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 522,573 tờ bản đồ số 15, địa chỉ: phường B và thửa đất số 574, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: H - K442 H, phường B, quận H, TP.Đà Nẵng (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BC298528, số vào sổ cấp GCN CH00204 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26/8/2010, cập nhật chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung H1 bà Bùi Thị Kim P ngày 06/08/2018.

3. Buộc Ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Trung H1 và bà Bùi Thị Kim P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 37.308.989 đồng (ba mươi bảy triệu, ba trăm lẻ tám nghìn, chín trăm tám mươi chín đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 17.541.336 đồng (mười bảy triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, ba trăm ba mươi sáu đồng) đã nộp theo Biên lai thu số 0005223 ngày 27/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

5. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND Khu vực 1 – Đà Nẵng;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng THADS Khu vực 1-Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 451/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 451/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP B đối với ông Nguyễn Trung H và bà Bùi Thị Kim P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger