|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 22-10-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Lan
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn D; sinh ngày 05-02-1996; giới tính: Nam; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm H, xã V, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2000; có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02-7-2025, đến ngày 05-7-2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H1; sinh ngày 05-4-1987; số căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Y, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Thế H2, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; gia đình có 4 chị em, bị cáo là con út; có vợ là Trịnh Thị Á, sinh năm 1987; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04-7-2025 đến ngày 30-7-2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Huy N1; sinh ngày 25-8-1997; số căn cước công dân: [...]; giới tính: Nam; nơi thường trú: Thôn A, xã B, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: Số B đường Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Huy T, sinh năm 1964 và bà Trịnh Thị Lan H3, sinh năm 1968; gia đình có 3 chị em, bị cáo là con út; có vợ là Đỗ Thu P, sinh năm 1998; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04-7-2025, đến ngày 30-7-2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Chị Trần Thị L, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn D, xã V, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Vũ Thị N2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn C, xã V, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Trần Thị H4, sinh năm 1979; nơi cư trú: Thôn T, xã L, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Anh Ninh Minh Đ, sinh năm 2000; nơi cư trú: Xóm N, xã V, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Lương Thị T1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm T, xã N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Nguyễn Thị Hồng H5, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn H, xã Ý, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Hà Thị H6, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ D, xã Ý, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Lê Thị Thanh H7, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số C Đ, phường H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
- Chị Đinh Thị N3, sinh năm 1987; nơi cư trú: Đ, xã Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn D không có việc làm ổn định nên sử dụng chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1 - 0263 của mình và chiếc xe máy Honda Blade biển kiểm soát 35B1 - 998.51 mượn của ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1975, bố đẻ D mục đích đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D tháo biển số xe máy Honda Wave và dùng miếng dán che hàng số bên dưới của xe nơi Honda Blade để tránh bị phát hiện.
Từ tháng 6-2025 đến tháng 7-2025, D đã một mình thực hiện 09 vụ cướp giật tài sản là 09 chiếc điện thoại di động. Nguyễn Văn H1 biết điện thoại là do Nguyễn Văn D phạm tội mà có nhưng vẫn mua 05 chiếc với giá rẻ để hưởng lợi. Trong đó có 02 chiếc điện thoại H1 không mở được mật khẩu máy, H1 đã gửi đến cửa hàng điện thoại Phương Nam của Trần Huy N1. Trần Huy N1 biết điện thoại là do Nguyễn Văn H1 phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý phá khóa icloud để hưởng lợi. Cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 26-6-2025, D điều khiển xe máy Honda Blade đi trên Quốc lộ C thuộc địa phận xã V, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện phía trước chị Trần Thị L, sinh năm 1986 đang đi xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18C1 - 091.83, trên tay trái cầm 01 điện thoại Samsung A32 màu xanh. Khi chị L điều khiển xe rẽ trái ra Quốc lộ A và dừng xe lại ven đường thì D điều khiển xe máy từ phía sau vượt lên bên trái và dùng tay trái giật chiếc điện thoại của chị L. D tháo sim điện thoại vứt đi rồi bán chiếc điện thoại cho H1 với giá 800.000 đồng. H1 đã xóa hết dữ liệu điện thoại và bày bán tại cửa hàng của mình.
- Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ ngày 27-6-2025, D điều khiển xe máy Honda Blade đi trên Quốc lộ A đến khu vực cách cầu G khoảng 50m thuộc địa phận xã V, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện phía trước chị Vũ Thị N2, sinh năm 1997 đi xe máy Honda Airblade biển kiểm soát 18D1 - 116.00, túi quần bên trái của chị N2 để 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng. D điều khiển xe áp sát chị N2 rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại khỏi túi quần chị N2. D tháo sim điện thoại vứt đi rồi bán chiếc điện thoại trên cho H1 với giá 700.000 đồng. H1 đã xóa hết dữ liệu điện thoại và bày bán tại cửa hàng của mình.
- Vụ thứ ba: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28-6-2025, D điều khiển xe máy Honda Wave đi trên trục đường X, tỉnh Ninh Bình cách cầu Đ khoảng 50m hướng về phía thôn T phát hiện phía trước chị Trần Thị H4, sinh năm 1979 đang dừng xe đạp điện màu đen ở ven đường, túi quần bên trái của chị H4 để 01 chiếc điện thoại Oppo A16K màu xanh. D điều khiển xe áp sát rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại khỏi túi quần chị H4.
- Vụ thứ 4: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 29-6-2025, D điều khiển xe máy Honda Blade đi trên Quốc lộ A thuộc địa phận xóm H, xã V, tỉnh Ninh Bình phát hiện thấy phía trước anh Ninh Minh Đ, sinh năm 2000 đang đứng ven Quốc lộ A, tay trái cầm 01 chiếc điện thoại Samsung S20FE màu xanh. D lái xe áp sát rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại của anh Đ. D tháo sim điện thoại vứt đi, chưa xoá dữ liệu điện thoại rồi mang đến cửa hàng điện thoại của H1 thay mặt kính điện thoại với mục đích để sử dụng. D thanh toán trả tiền thay mặt kính cho H1 là 250.000 đồng và để điện thoại tại cửa hàng của H1.
- Vụ thứ 5: Khoảng 12 giờ ngày 29-6-2025, D điều khiển xe máy Honda Blade đi trên Quốc lộ C cách cầu Đ khoảng 01km thuộc địa phận xã Y, tỉnh Ninh Bình, D phát hiện phía trước chị Lương Thị T1, sinh năm 1988 đang điều khiển xe máy Honda Airblade biển kiểm soát 18K1 - 188.38, chở cháu Lương Phúc Hồng D2, sinh năm 2022 và cháu Lương Huyền Thảo D3, sinh năm 2018. Chị T1 dừng xe chờ đèn giao thông, trên tay trái cầm 01 chiếc điện thoại IQOO Z9 màu trắng. D2 lái xe áp sát từ phía sau bên trái rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại khỏi tay chị T1. D2 tháo sim điện thoại vứt đi, xóa hết dữ liệu điện thoại.
- Vụ thứ 6: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 30-6-2025, D2 điều khiển xe máy Honda Wave đi trên tỉnh lộ 485 khu vực thôn H, xã Ý, tỉnh Ninh Bình phát hiện phía trước chị Nguyễn Thị Hồng H5, sinh năm 1996 đang điều khiển xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18D1 - 490.77, ở túi quần sau bên trái có để 01 chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng. Khi chị H5 dừng xe ở trước cửa nhà thì D2 lái xe áp sát rồi dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên ra khỏi túi quần chị H5. D2 tháo sim điện thoại vứt đi.
- Vụ thứ 7: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 30-6-2025, D2 điều khiển xe máy Honda Wave đi trên Quốc lộ C đến khu vực cổng chợ L2, xã Ý, tỉnh Ninh Bình phát hiện phía trước chị Hà Thị H6, sinh năm 1988 đang điều khiển xe điện X Men không có BKS, chở phía sau chị Phạm Thị L1, sinh năm 1983, trên tay trái của chị H6 đang cầm 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max màu trắng. D2 lái xe áp sát xe chị H6, dùng tay trái giật chiếc điện thoại. D2 tháo sim điện thoại vứt đi rồi đến cửa hàng điện thoại của H1 bán chiếc điện thoại Iphone 11 và Iphone XS Max cho H1 với giá 1.600.000 đồng.
H1 sử dụng tài khoản Zalo “Huyền Ánh” đăng ký bằng số điện thoại 0987.553.xxx của H1 nhắn tin, liên lạc với tài khoản Z “Anh N1” đăng ký bằng số điện thoại 0969.999.xxx của N1 nhờ N1 phá khoá icloud 02 chiếc điện thoại trên. H1 chuyển 02 chiếc điện thoại trên bằng hình thức vận tải đến cửa hàng cho N1. Nam nhờ nhân viên bán hàng là Khương Hữu T2, sinh năm 2002, trú tại xóm B, xã N, tỉnh Ninh Bình nhận 02 chiếc điện thoại trên. Do N1 bận công việc gia đình nên chưa phá khoá icloud và vẫn để điện thoại tại cửa hàng của mình.
- Vụ thứ 8: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02-7-2025, D2 điều khiển xe máy Honda Wave đi trên đường S lên cầu T thuộc địa phận phường H, tỉnh Ninh Bình, thì phát hiện phía trước chị Lê Thị Thanh H7, sinh năm 1991 đang điều khiển xe máy điện Yadea biển kiểm soát MĐ1 - 25112, trên tay trái cầm 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen. D2 lái xe áp sát xe chị H7, dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên. D2 tháo sim điện thoại vứt đi rồi bán chiếc điện thoại trên cho H7 với giá 2.500.000 đồng, D2 đã tiêu sài cá nhân hết số tiền 520.000 đồng. Huyền chưa xoá dữ liệu của chiếc điện thoại này.
- Vụ thứ 9: Khoảng 11 giờ 26 phút ngày 02-7-2025, D2 điều khiển xe máy Honda Wave đi trên Quốc lộ A đến đoạn ngã tư giao nhau với đường liên xóm thuộc địa phận thôn T, phường T, tỉnh Ninh Bình phát hiện phía trước có chị Đinh Thị N3, sinh năm 1987 đang ngồi trên xe máy Honda Vision biển kiểm soát 35N1 - 335.25 dựng ở ven đường, trên tay trái cầm 01 chiếc điện thoại di động Oppo A5 Pro 5G màu đen. D2 lái xe rẽ vào đoạn đường liên xóm rồi vòng xe lại áp sát chị N3 từ phía sau bên trái, dùng tay trái giật chiếc điện thoại rồi tăng ga bỏ chạy về phía phường T. Chị N3 tri hô “Cướp, cướp” thì anh Trần Đình Đ1, sinh năm 1996 ở gần đó nghe thấy và điều khiển xe máy đuổi theo D2. Thấy có người đuổi theo nên khi đến khu vực xóm I, phường T, tỉnh Ninh Bình, D2 bỏ trốn vào nhà ông Trần Bảo H8, sinh năm 1974, trú tại xóm I, phường T, tỉnh Ninh Bình và nói dối là cho D2 gửi nhờ xe máy vì xe của D2 hết xăng. D2 nhờ ông H8 chở đi thì ông H8 đồng ý. D2 đóng cửa nhà ông H8 lại rồi cất giấu chiếc điện thoại của chị N3 vào cốp xe máy của mình, đồng thời lấy biển kiểm soát 18H1 - 0263 lắp lại vào xe máy của mình.
Khi D2 mở cửa đi ra ngoài thì bị Cơ quan Công an phát hiện, D2 bỏ trốn vào trong nhà vệ sinh và vứt số tài sản ra khu đất sau nhà ông H8 gồm chiếc điện thoại IQOO Z9 màu trắng, chiếc điện thoại OPPO A16K màu xanh và số tiền 1.980.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại OPPO A5 Pro 5G màu đen của chị N3, điện thoại Oppo A16K màu xanh của chị H4, điện thoại IQOO Z9 màu trắng của chị T1, số tiền 1.980.000 đồng là số tiền còn lại sau khi bán điện thoại Iphone 12 Promax của chị H7, chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1 – 0263, chiếc xe máy Honda Blade biển kiểm soát 35B1 – 99851 và số trang phục D sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Nguyễn Văn H1 tự nguyện giao nộp các tài sản D cướp giật được bán cho H1 gồm: chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen của chị H1, chiếc điện thoại Samsung S20FE màu xanh của anh Đ, chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng của chị Vũ Thị N2, chiếc điện thoại Samsung A32 màu xanh của chị Trần Thị L, chiếc điện thoại Oppo Reno6 Z 5G màu xanh đen là tài sản của H1. Trần Huy N1 tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị Nguyễn Thị Hồng H5, chiếc điện thoại Iphone XS Max màu trắng của chị Hà Thị H6, chiếc điện thoại Iphone 16 Promax màu vàng là tài sản của N1.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành Lệnh khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1 và Trần Huy N1, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Bản kết luận định giá tài sản số 117 ngày 29-8-2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: điện thoại Oppo A5 Pro 5G, màu đen, bản 256GB, số IMEI1: 861825075803476, số IMEI2: 861825075803468 trị giá 3.066.667 đồng; điện thoại Iphone 11, màu trắng, bản 64GB, số IMEI: 356552100704220, số IMEI2: 356552100667096 trị giá 4.666.667 đồng; điện thoại Iphone XS Max, màu trắng, bản 64GB, số IMEI: 353100100064501, số IMEI2: 353100100187195 trị giá 4.766.667 đồng; điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, bản 128GB, số IMEI: 357210362163234, số IMEI2: 357210362202263 trị giá 9.833.333 đồng; điện thoại Samsung S20FE, màu xanh, bản 256GB, số IMEI1: 355728261657214, số IMEI2: 356203781657218 trị giá 5.433.333 đồng; điện thoại Oppo A16K, màu xanh, bản 32GB, số IMEI1: 868289052568417, số IMEI2: 868289052568409 trị giá 1.733.333 đồng; điện thoại Iphone 8 Plus, màu vàng, bản 64GB, số IMEI: 352979090899476 trị giá 2.866.667 đồng; điện thoại Samsung A32, màu xanh, bản 128GB, số IMEI1: 350944135890106, số IMEI2: 353186705890101 trị giá 2.383.333 đồng; điện thoại IQOO Z9, màu trắng, bản 128GB, số IMEI1: 867837075630233, số IMEI2: 867837075630225 trị giá 2.566.667 đồng . Tổng giá trị 09 chiếc điện thoại trên là 37.316.667 đồng.
Cơ quan điều tra đã xác định chiếc xe máy Honda Blade biển kiểm soát 35B1 - 998.51 là của ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1975 bố đẻ D. Ông D1 cho D mượn để sử dụng và không biết D sử dụng xe đi cướp giật tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông D1.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại 09 chiếc điện thoại cho chị Trần Thị L, chị Vũ Thị N2, chị Trần Thị H4, anh Ninh Minh Đ, chị Lương Thị T1, chị Nguyễn Thị Hồng H5, chị Hà Thị H6, chị Lê Thị Thanh H7, chị Đinh Thị N3. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu D bồi thường dân sự.
Bản cáo trạng số 44/CT-VKS-KV7 ngày 30-9-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Huy N1 đã phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự .
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D, phạm tội “Cướp giật tài sản”, bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo Trần Huy N1 phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02-7-2025. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm đến 03 năm 06 tháng. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Huy N1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.980.000 đồng; 01 chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1-0263; 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng; 01 chiếc điện thoại Oppo Reno6 Z 5G, màu xanh đen; truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 3.620.000 đồng là tiền của bị cáo Nguyễn Văn H1 dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu trắng xanh đỏ có chữ ITALIA; 01 mũ bảo hiểm màu ghi xám có chữ OWEN; 01 quần đùi vải màu đen có chữ adidas; 01 cáo phông trắng cộc tay không cổ có chữ PRADA; 01 đôi dép màu đen có chữ Fashion; 01 quần vải dài kẻ caro có chữ PRDA; 01 áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu trắng ghi vàng có chữ BURBERY là những vật đã qua sử dụng, không còn giá trị. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và các bị hại trong vụ án. Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1 và Trần Huy N1 và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn D: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn D tại trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của những người làm chứng, bị hại; biên bản thu giữ vật chứng; biên bản định giá tài sản cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 26-6-2025 đến ngày 02-7-2025 trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn D đã có hành vi điều khiển xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1 - 0263 và xe máy Honda Blade biển kiểm soát 35B1 - 998.51 cướp giật 09 chiếc điện thoại gồm: 01 chiếc điện thoại Oppo A5 Pro 5G, màu đen; 01 chiếc điện thoại Iphone 11, màu trắng; 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max, màu trắng; 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen; 01 chiếc điện thoại Samsung S20FE, màu xanh; 01 chiếc điện thoại Oppo A16K, màu xanh; 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus, màu vàng; 01 chiếc điện thoại Samsung A32, màu xanh; 01 chiếc điện thoại IQOO Z9, màu trắng. Tổng giá trị là 37.316.667 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an ninh xã hội; khi phạm tội bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe máy chạy áp sát, giật lấy tài sản của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H1: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H1 trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 26-6-2025, 27-6-2025, 30-6-2025 và 02-7-2025 tại cửa hàng Đ2 địa chỉ thôn P, xã Y, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn H1 không hứa hẹn trước nhưng vẫn mua 05 chiếc điện thoại do Nguyễn Văn D phạm tội mà có gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu đen trị giá 9.833.333 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng trị giá 2.866.667 đồng; 01 chiếc điện thoại Samsung A32 màu xanh trị giá 2.383.333 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone 11, màu trắng trị giá 4.666.667 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max, màu trắng trị giá 4.766.667 đồng. Tổng giá trị là 24.516.667 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn H1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; hành vi của bị cáo đã gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đối với bị cáo Trần Huy N1: Lời khai của bị cáo Trần Huy N1 trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 30-6-2025 tại cửa hàng điện thoại Phương Nam của Trần Huy N1 địa chỉ: Số B đường Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình, Trần Huy N1 không hứa hẹn trước nhưng đã cất giữ 02 chiếc điện thoại gồm: Iphone 11 và Iphone XS Max của Nguyễn Văn H1 dù đã biết rõ 02 chiếc điện thoại này do Nguyễn Văn H1 phạm tội mà có. Bị cáo Trần Huy N1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện; hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó bị cáo đã phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình đối với các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1 và Trần Huy N1 đã tự nguyện khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H1 và Trần Huy N1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Văn D đã 09 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn H1 04 lần thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do Nguyễn Văn D phạm tội mà có; do đó các bị cáo đều phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Bị cáo Trần Huy N1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D là nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Văn D tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Trần Huy N1 là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn H1 và bị cáo Trần Huy N1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó, căn cứ quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại 09 chiếc điện thoại cho các bị hại là chị Trần Thị L, chị Vũ Thị N2, chị Trần Thị H4, anh Ninh Minh Đ, chị Lương Thị T1, chị Nguyễn Thị Hồng H5, chị Hà Thị H6, chị Lê Thị Thanh H7 và chị Đinh Thị N3. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Nguyễn Văn D bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 5.600.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn H1 trả cho bị cáo Nguyễn Văn D để mua 5 chiếc điện thoại là tiền dùng vào việc phạm tội. Vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.980.000 đồng mà cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn D và truy thu số tiền 3.620.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn D.
Đối với 01 chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1-0263 là phương tiện bị cáo Nguyễn Văn D dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng thu giữ của bị cáo Trần Huy N1 và 01 chiếc điện thoại Oppo Reno6 Z 5G, màu xanh đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H1 là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 mũ bảo hiểm màu trắng xanh đỏ có chữ ITALIA; 01 mũ bảo hiểm màu ghi xám có chữ OWEN; 01 quần đùi vải màu đen có chữ adidas; 01 cáo phông trắng cộc tay không cổ có chữ PRADA; 01 đôi dép màu đen có chữ Fashion; 01 quần vải dài kẻ caro có chữ PRDA; 01 áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu trắng ghi vàng có chữ BURBERY là những vật đã qua sử dụng, bị cáo Nguyễn Văn D không yêu cầu trả lại, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Các vấn đề khác: Ông Nguyễn Văn D1 không biết Nguyễn Văn D sử dụng chiếc xe máy Honda Blade biển kiểm soát 35B1-998.51 của mình để đi cướp giật tài sản nên cơ quan điều tra trả lại ông Nguyễn Văn D1 là đúng quy định của pháp luật.
Anh Khương Hữu T2 không biết nguồn gốc 02 chiếc điện thoại Iphone 11 và Iphone XS Max do N1 nhờ nhận giúp là tài sản do người khác phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 04 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02-7-2025.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22-10-2025 (Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04-7-2025 đến ngày 30-7-2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
3. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Trần Huy N1 phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt bị cáo Trần Huy N1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22-10-2025 (Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04-7-2025, đến ngày 30-7-2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Trần Huy N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.980.000 đồng do Công an tỉnh N đã chuyển cho Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18H1-0263; 01 chiếc điện thoại Iphone 16 Promax, màu vàng; 01 chiếc điện thoại Oppo Reno6 Z 5G, màu xanh đen.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu trắng xanh đỏ có chữ ITALIA; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu ghi xám có chữ OWEN; 01 chiếc quần đùi vải màu đen có chữ adidas; 01 chiếc áo phông trắng cộc tay không cổ có chữ PRADA; 01 đôi dép màu đen có chữ Fashion; 01 chiếc quần vải dài kẻ caro có chữ PRDA; 01 chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ caro màu trắng ghi vàng có chữ BURBERY.
- (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-10-2025)
- - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Văn D số tiền 3.620.000 đồng.
5. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H1, Trần Huy N1 có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| - Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình; |
| - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình; |
| - VKSND khu vực 7 – Ninh Bình; |
| - Bị cáo; |
| - Bị hại; |
| - THADS tỉnh Ninh Bình; |
| - UBND xã Yên Cường; |
| - UBND phường Nam Định; |
| - Lưu hồ sơ vụ án + VP. |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 22/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D cùng đồng bọn - Cướp giật tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội, chứa chấp tài sản
