Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - TÂY NINH

Bản án số: 448/2025/DS-ST

Ngày: 29 – 9 – 2025

V/v: Tranh chấp đòi tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoài Duy;

Bà Huỳnh Thị Kim Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Nguyễn Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2025/TLST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 449/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1964; Địa chỉ: Số C, khu phố G, phường T, tỉnh Tây Ninh; số CCCD [...], do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 16/8/2022, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền:

+ Chị Trần Thị Yến N, sinh năm 1997; Địa chỉ: số E, đường Đ, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 07/7/2025), có mặt.

+ Anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995; địa chỉ: số B, đường L, khu phố D, phường L, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 07/7/2025), có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Số C, hẻm A, đường C, khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, anh Lê Phước Ý, chị Trần Thị Yến N trình bày:

Nguyên trước đây, ông Nguyễn Văn H là cửa hàng trưởng cửa hàng xăng dầu số I tại xã B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (nay là phường B, tỉnh Tây Ninh) thuộc Công ty X (gọi tắt là Công ty) theo Quyết định số 193/PLXTN-QĐ ngày 09/5/2013 của Công ty X về việc giao nhiệm vụ Phụ trách kiêm nhiệm CHXD số 97 đối với ông Nguyễn Văn H. Ông H làm cửa hàng trưởng từ năm 2013 đến tháng 9/2020 xin nghỉ việc. Ông H làm cửa hàng trưởng là chịu trách nhiệm quản lý tại cây xăng, báo cáo tổng lượng xăng dầu bán ra và giao tiền cho công ty vào cuối ngày, cuối tuần, cuối tháng tùy vào yêu cầu từ Công ty và Công ty có chế độ chiết khấu thưởng thêm theo doanh số bán hàng nên ông H bán xăng dầu thiếu cho nhiều chủ xe chạy dịch vụ để giữ mối tăng doanh số, mặc dù Công ty không cho bán thiếu nên khi có người đổ xăng dầu thiếu thì ông H ghi sổ tự theo dõi và tự đòi tiền này, còn ông H sẽ dùng tiền cá nhân để thanh toán tiền theo số lượng tổng lít xăng dầu bán tại cây xăng cho Công ty.

Ông Phạm Văn H1 là chủ xe thường xuyên đổ dầu tại cây xăng này. Ban đầu, ông H1 đều trả tiền mặt nhưng do quen thân với ông H nên ông H cho ông H1 thiếu tiền đổ xăng dầu để ông H lấy doanh số bán hàng với Công ty. Tiền xăng dầu ông H1 đổ thiếu, ông H dùng tiền cá nhân để trả cho Công ty.

Do nguyên tắc hoạt động của cây xăng là giao toàn quyền mua bán cho Cửa hàng trưởng, Công ty không quan tâm cửa hàng trưởng bán xăng dầu cho ai, bán tiền mặt hay bán thiếu, chỉ cần khi Công ty yêu cầu thanh toán chốt tổng lượng xăng dầu bán ra thì phải nộp tiền về Công ty ngay.

Từ tháng 3/2020 đến tháng 9/2020, ông H1 còn nợ tiền đổ thiếu xăng dầu của ông H là 316.036.000 (Ba trăm mười sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn) đồng. Đến ngày 27/01/2021, ông H1 trả ông H số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng), ông H1 còn nợ lại ông H 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu đồng). Ông H rất nhiều lần đòi tiền ông H1 nhưng ông H1 cứ hẹn lần, hẹn lượt không chịu trả tiền cho ông H.

Nay ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền mua xăng dầu còn nợ là: 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu) đồng.

Bị đơn, ông Phạm Văn H1: Ông H1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa để giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp đòi tài sản; buộc ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu) đồng.

Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H1.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn H1 trả số tiền 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu) đồng. Ông H1 cư trú tại số C, hẻm A, đường C, khu phố B, phường T, tỉnh Tây Ninh. Căn cứ Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Tây Ninh.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:

Ông Nguyễn Văn H là cửa hàng T tại phường B, tỉnh Tây Ninh, thuộc Công ty X (theo hợp đồng lao động số 153/2016/PLXTN-HĐLĐ). Từ tháng 3/2020 đến tháng 9/2020, ông H1 còn nợ tiền đổ thiếu xăng dầu của ông H là 316.036.000 (Ba trăm mười sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn) đồng. Đến ngày 27/01/2021, ông H1 trả ông H số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu đồng), ông H1 còn nợ lại ông H 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu đồng). Quá trình làm việc ông H cung cấp bản chính “Giấy tính tiền” do ông H lập theo dõi và có xác nhận do ông H1 ký tên để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.

Quá trình giải quyết vụ án ông H1 đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ và bản tự khai trình bày ý kiến của ông H1 đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, tuy nhiên ông H không thực hiện, không phản hồi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, vì vậy xem như ông H1 đã từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H1 phải trả cho ông H số tiền 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu đồng).

[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về án phí:

Ông Nguyễn Văn H không phải chịu tiền án phí.

Do yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận, theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật dân sự; các Điều 26, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H đối với ông Phạm Văn H1 về “Tranh chấp đòi tài sản”.

Buộc ông Phạm Văn H1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn H số tiền 266.036.000 (Hai trăm sáu mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn H không phải chịu tiền án phí.

Ông Phạm Văn H1 phải chịu 13.301.800 (mười ba triệu ba trăm lẻ một nghìn tám trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày tính từ ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND khu vực 10 – Tây Ninh;
  • - CCTHADS khu vực 10 – Tây Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Nguyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 448/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 448/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đòi tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger