|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG Bản án số: 448/2025/DS-ST Ngày: 26 - 9 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Ảnh
- Bà Nguyễn Thị Cúc
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Yên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Nguyên Lương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T1. Trụ sở: Tòa nhà T2, số E L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP T1. Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Hoàng Phương M, ông Hoàng Ngọc C, ông Mai Ngọc T, ông Nguyễn Thiện L, bà Hồ Thị Thanh N, bà Trương Thị H, ông Nhan Ngọc L1, ông Lê Văn Đ, cùng địa chỉ: D N, phường C, thành phố Đà Nẵng. Bà H có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985. Ông Lê Xuân P1, sinh năm 1992, cùng trú tại: A đường C, KĐT Đ, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án; bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trương Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP T1 (T2) theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022. Bà Nguyễn Thị H1 và Ngân hàng TMCP T1 có ký Hợp đồng tín dụng theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022.
Căn cứ vào Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022, T2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1, cụ thể như sau: Số tiền giải ngân: 770.000.000 đồng. Mục đích vay: Bù đắp vốn tự có mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, 07 chỗ, sản xuất năm 2020. Thời hạn vay: 72 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đến ngày 05/4/2028). Lãi suất: Linh hoạt trong thời gian vay. Lãi suất áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 8,9%/năm. Lãi suất áp dụng cho thời gian còn lại trong thời hạn vay vốn: Bằng lãi suất cơ sở khách hàng cá nhân 3 tháng cộng (+) biên độ 3.5%/năm. Kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần. Phí trả nợ trước hạn: Trong 24 tháng đầu: 3,5% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Trong năm thứ ba: 3% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Trong năm thứ tư: 1% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Trong thời gian còn lại: Miễn phí và các thỏa thuận khác.
Căn cứ Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022 nêu trên, T2 đồng ý cấp hạn mức thẻ tín dụng là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và đã phát hành cho bà Nguyễn Thị H1 01 thẻ tín dụng T2 hạng Vàng. Số tiền giải ngân: Khách hàng đã sử dụng/tiêu dùng toàn bộ hạn mức được cấp.
Để bảo đảm cho tất cả các nghĩa vụ trên, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 đã thế chấp cho T2 tài sản bảo đảm theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022, cụ thể như sau: 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai; Số loại: Santafe; Màu trắng; Số khung: RLUSV81BDLN010690; Số máy: D4HBLU074998; BKS: 43A-669.48 cấp cho bà Nguyễn Thị H1 theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43 018501 do Phòng C1, Công an thành phố Đ cấp ngày 01/4/2022.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 đã thanh toán cho T2 số tiền: Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022 là 145.949.894 đồng; Trong đó: 96.249.996 đồng tiền gốc, 49.699.898 đồng tiền lãi; Theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022, bà H1 đã giao dịch 663.5440.000 đồng, đã thanh toán 587.023.388 đồng, trong đó trả nợ gốc 583.806.556 đồng, trả nợ lãi 3.216.832 đồng.
Ngày 10/02/2023, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022. Ngày 25/01/2023, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022. Ngày 11/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. T2 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 thanh toán nhưng
không nhận được sự hợp tác trả nợ từ phía bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1.
T2 kính đề nghị Quý Tòa xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật:
Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán ngay cho T2 các khoản (tạm tính đến ngày 26/9/2025) gồm:
- - Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số84/2022/HDTD/TTBMT2: bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 939.871.170 đồng (Chín trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi mốt ngàn, một trăm bảy mươi đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 673.750.004 đồng, nợ lãi trong hạn: 161.311.141 đồng; nợ lãi quá hạn 104.810.025 đồng.
- - Theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022, bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 185.792.351 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 79.737.444 đồng, nợ lãi trong hạn 9.830.330 đồng, nợ lãi quá hạn 95.569.587 đồng, phí thường niên 495.000 đồng.
Kể từ ngày 27 tháng 9 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, có số khung: RLUSV81BDLN010690 và số máy: D4HBLU074998, mang BKS số 43A-669.48; Giấy chứng nhận Đăng ký ô tô số 43 018501 do Phòng Cảnh sát giao thông thành phố C1 cấp ngày 01/4/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1.
Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến.
* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng phát biểu ý kiến như sau:
- - Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán ngay cho T2 các khoản (tạm tính đến ngày 26/9/2025) gồm:
- - Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022: bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 939.871.170 đồng (Chín trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi mốt ngàn, một trăm bảy mươi đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 673.750.004 đồng, nợ lãi trong hạn: 161.311.141 đồng; nợ lãi quá hạn 104.810.025 đồng.
- - Theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022, bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền: 185.792.351 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 79.737.444 đồng, nợ lãi trong hạn 9.830.330 đồng, nợ lãi quá hạn 95.569.587 đồng, phí thường niên 495.000 đồng.
Kể từ ngày 27 tháng 9 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, có số khung: RLUSV81BDLN010690 và số máy: D4HBLU074998, mang BKS số 43A-669.48; Giấy chứng nhận Đăng ký ô tô số 43 018501 do Phòng Cảnh sát giao thông thành phố C1 cấp ngày 01/4/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng phát biểu quan điểm về thủ tục và nội dung giải quyết vụ án; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Xuân P1 có nơi cư trú tại phường H, thành phố Đà Nẵng là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phiên tòa hôm nay là lần thứ hai bị đơn bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Xuân P1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét về nội dung khởi kiện:
Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP T1 (T2) theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1, cụ thể như sau: Số tiền giải ngân: 770.000.000 đồng. Mục đích vay: Bù đắp vốn tự có mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, 07 chỗ, sản xuất năm 2020. Thời hạn vay: 72 tháng (kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đến ngày 05/4/2028). Lãi suất: Linh hoạt trong thời gian vay. Lãi suất áp dụng trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân là 8,9%/năm. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn và các thỏa thuận khác.
Bà Nguyễn Thị H1 có ký với Ngân hàng TMCP T1: Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022 nêu trên, T2 đồng ý cấp hạn mức thẻ tín dụng là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) và đã phát hành cho bà Nguyễn Thị H1 01 thẻ tín dụng T2 hạng Vàng.
Xét thấy việc giao kết các Hợp đồng nói trên là đúng về chủ thể, nội dung Hợp đồng phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 đã thanh toán cho T2 số tiền: Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022 là 145.949.894 đồng; trong đó: 96.249.996 đồng tiền gốc, 49.699.898 đồng tiền lãi; Theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022, bà H1 đã giao dịch 663.5440.000 đồng, đã thanh toán 587.023.388 đồng, trong đó trả nợ gốc 583.806.556 đồng, trả nợ lãi 3.216.832 đồng. Ngày 10/02/2023, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022. Ngày 25/01/2023, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022. Ngày 11/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. T2 đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 thanh toán nhưng không nhận được sự hợp tác trả nợ từ phía bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T1:
- - Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán cho Ngân hàng theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022 số tiền: 939.871.170 đồng (Chín trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi mốt ngàn, một trăm bảy mươi đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 673.750.004 đồng; nợ lãi trong hạn: 161.311.141 đồng; nợ lãi quá hạn 104.810.025 đồng.
- - Bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022 số tiền: 185.792.351 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 79.737.444 đồng, nợ lãi trong hạn 9.830.330 đồng, nợ lãi quá hạn 95.569.587 đồng, phí thường niên 495.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 27/9/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ nợ là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, quy định tại Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo số tiền vay của Hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 đã dùng tài sản của mình thế chấp để bảo lãnh vay vốn tại Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022 như sau: Xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, có số khung: RLUSV81BDLN010690 và số máy: D4HBLU074998, mang BKS số 43A-669.48; Giấy chứng nhận Đăng ký ô tô số 43 018501 do Phòng Cảnh sát giao thông thành phố C1 cấp ngày 01/4/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1. Xét thấy Hợp đồng thế chấp được ký giữa bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 và Ngân hàng là đúng quy định pháp luật, phù hợp với Điều 325 Bộ luật Dân sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022, quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- + Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải chịu 40.196.135 đồng (Bốn mươi triệu, một trăm chín mươi sáu ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 9.289.617 đồng (Chín triệu, hai trăm tám mươi chín ngàn, sáu trăm mười bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.723.367 đồng (Hai mươi triệu, bảy trăm hai mươi ba ngàn, ba trăm sáu mươi bảy đồng) theo biên lai thu số 0000381 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 299, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 đối với bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Xuân P1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- - Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 84/2022/HDTD/TTBMT2 ngày 04/4/2022 số tiền tạm tính đến ngày 25/9/2025 là: 939.871.170 đồng (Chín trăm ba mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi mốt ngàn, một trăm bảy mươi đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 673.750.004 đồng, nợ lãi trong hạn: 161.311.141 đồng; nợ lãi quá hạn 104.810.025 đồng.
- - Buộc bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 theo Đơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng T2 kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ ngày 14/4/2022 số tiền tạm tính đến ngày 25/9/2025 là: 185.792.351 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, ba trăm năm mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 79.737.444 đồng, nợ lãi trong hạn 9.830.330 đồng, nợ lãi quá hạn 95.569.587 đồng, phí thường niên 495.000 đồng.
Kể từ ngày 27 tháng 9 năm 2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Santafe, màu trắng, có số khung: RLUSV81BDLN010690 và số máy: D4HBLU074998, mang BKS số 43A-669.48; Giấy chứng nhận Đăng ký ô tô số 43 018501 do Phòng Cảnh sát giao thông thành phố C1 cấp ngày 01/4/2022 đứng tên bà Nguyễn Thị H1.
- Về án phí:
- + Bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Xuân P1 phải chịu 40.196.135 đồng (Bốn mươi triệu, một trăm chín mươi sáu ngàn, một trăm ba mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 9.289.617 đồng (Chín triệu, hai trăm tám mươi chín ngàn, sáu trăm mười bảy đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.723.367 đồng (Hai mươi triệu, bảy trăm hai mươi ba ngàn, ba trăm sáu mươi bảy đồng) theo biên lai thu số 0000381 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Ngọc Hưng |
Bản án số 448/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 448/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tín dụng
