|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày 26 - 9 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Bình và bà Lê Thị Hồng Khiên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ tham gia phiên toà:
Ông Lưu Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ, xét xử sơ thẩm theo hình trức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Quý Đ sinh ngày 04 tháng 7 năm 2003 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là TDP X, phường P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn L và bà Đỗ Thị T; có vợ Lương Đặng H và 01 con sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/5/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an tỉnh P. (có mặt)
Hoạt động bản thân: Không
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Nguyễn Huy H1, sinh năm 2004 (xin vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường P, tỉnh Phú Thọ
- + Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1982 (có mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 ngày 05/5/2025, Lê Quý Đ đang ở nhà tại phường P, Phú Thọ thì Nguyễn Huy H1, sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P) nhắn qua ứng dụng Messenger từ tài khoản “Nguyễn Huy H1” đến tài khoản “Lê Quý Đ” của Đ hỏi mua 01 chỉ ma túy dạng Ketamine và nửa viên ma túy dạng kẹo thì Đ đồng ý và bảo H1 hết 1.800.000 đồng và đọc số tài khoản ngân hàng cho H1. H1 sử dụng điện thoại đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng M của H1 số tài khoản 0985569204 chuyển số tiền 1.600.000đồng vào số tài khoản 990014708888 ngân hàng M của Đ và bảo với Đ cho H1 nợ 200.000đồng trả sau thì Đ đồng ý và hẹn H1 đến trước cửa quán X ở khu đô thị Đ, thuộc phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ) để trao đổi mua bán ma túy.
Đến 06 giờ 48 phút cùng ngày, Đ nhận được tiền của H1 chuyển khoản, Đ sử dụng chiếc điện thoại Iphone 15 pro màu xám đăng nhập vào tài khoản zalo tên “Đôn” của mình gọi vào tài khoản zalo tên “G1” hỏi mua một chỉ ma túy dạng Ketamine và một viên ma túy dạng kẹo thì G đồng ý bán cho Đ với giá 1.600.000đồng và hẹn Đ ở gầm cầu vượt thuộc P, P, Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ) để trao đổi mua bán ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát (BKS) 88H1- 213.86 đi từ nhà đến địa điểm hẹn với G. Khi đến nơi thì thấy G đang đứng đợi từ trước, Đ đưa G số tiền 1.600.000đồng, đồng thời G đưa cho Đ 01 túi nilon có chứa ma túy dạng Ketamine và một viên ma túy dạng kẹo, Đ cầm túi ma túy điều khiển xe đến địa điểm hẹn với H1. Trên đường đi, Đ dừng lại lấy viên ma túy dạng kẹo bẻ đôi sau đó tự nuốt một nửa viên ma túy kẹo, còn một nửa cất lại vào túi nilon đem bán cho H1. Khi đến nơi gặp nhau thì H1 ngồi trên xe ô tô BKS 30H- 61324 mở cửa kính xe, Đ đưa túi nilon chứa ma túy Ketamine và ma túy K cho H1. H1 cầm túi ma túy cất vào túi quần bên phải rồi điểu khiển xe về nhà tại số L khu đô thị T, H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Khi về đến nhà H1 đi vào phòng ngủ tầng 4 rồi lấy túi ma túy vừa mua được đổ một phần ma túy Ketamine vào tờ tiền mệnh giá 5.000đồng và dùng bật lửa gas nghiền nhỏ ma túy trên tờ tiền, sau đó dùng bật lửa gas hơ nóng ma túy trên tờ tiền, tiếp đó H1 dùng móng tay út xúc ma túy đưa lên mũi hít qua đường mũi vào cơ thể rồi H1 uống nửa viên ma túy dạng kẹo vào cơ thể. Khi sử dụng gần hết số ma túy trong túi nilon vừa mua dược H1 để túi nilon chứa ma túy còn lại trên ngăn tủ; còn tờ tiền H1 vừa dùng để sử dụng ma túy H1 để trên kệ gỗ đầu giường phòng ngủ để tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện Nguyễn Huy H1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an phường H triệu tập Đ lên làm việc. Tại đây Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi mua và bán ma túy cho H1.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại kệ gỗ trong phòng ngủ của H1 có 01 tờ tiền mệnh giá 5000đồng có bám dính chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; Thu giữ bên trong ngăn tủ của phòng ngủ của H1 có 01 túi nilon màu trắng viền màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A2;
Thu giữ của Nguyễn Huy H1 01 chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, 01 bật lửa gas màu đỏ và số tiền 200.000 đồng là tiền H1 còn nợ Đ khi mua ma túy.
Thu giữ của Lê Quý Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám.
Bà Đỗ Thị T sinh năm 1982, trú tại: Phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ) là mẹ của Lê Quý Đ đã giao nộp số tiền 1.600.000 đồng tương ứng số tiền Đ đã thu khi bán ma túy cho H1.
Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Huy H1 và Lê Quý Đ.
Ngày 14/5/2025, Phòng K1 - Công an tỉnh V đã ra Bản kết luận giám định số 1155/KLGD, kết luận: “1. Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine bám dính trên tờ tiền mệnh giá 5.000 VNĐ của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định. Không xác định được khối lượng của chất ma túy bám dính do tồn tại ở dạng vết”.
2. Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3365g (không phảy ba ba sáu năm gam, không kể bao bì) loại Ketamine.” Cơ quan giám định đã hoàn lại A2 = 0,1938 gam cùng 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đồng được niêm phong theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số: 1156/KLGĐ ngày 14/5/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Quý Đ - SN: 2003, ở TDP X, phường P, thành phố P gửi đến giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1157/KLGĐ ngày 14/5/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Huy H1 - SN: 2004, ở TDP X, phường P, thành phố P gửi đến giám định.
Ngày 25/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều Công an tỉnh V đã ra quyết định trưng cầu giám định số A2443/QĐ-CSMT, đối với 01 chiếc điện di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám thu giữ của Lê Quý Đ. Ngày 27/6/2025, Phòng K1 - Công an tỉnh V đã ra Bản kết luận giám định số 1531/KL-KTHS, kết luận:
Thẻ sim in hàng số 898404800046704811 có thuê bao là “+84373013290".
Chụp được 21 ảnh dữ liệu là danh bạ điện thoại: 03 ảnh thể hiện dữ liệu là lịch sử cuộc gọi. 09 ảnh thể hiện dữ liệu là tin nhắn ứng dụng Messenger trong ngày 05/5/2025.
Không tìm thấy dữ liệu là tin nhắn SMS, tin nhắn ứng dụng Zalo trong ngày 05/5/2025.
Cơ quan điều tra có văn bản yêu cầu Công ty V cung cấp thông tin tài khoản Zalo “Đôn” được đăng ký bằng số điện thoại 0373.013.xxx và tài khoản Zalo “Gin”? cũng như đề nghị cung cấp tin nhắn đi, đến; nội dung cuộc gọi đi, cuộc gọi đến giữa hai tài khoản Z “Đôn” và “Gin”.
Tại Công văn số 0160 ngày 20/8/2025, Công ty V trả lời đối với yêu cầu của cơ quan điều tra như sau:
Số 0373.013.290 Tài khoản chưa xác thực nên không có thông tin chủ tài khoản.
Thông tin tài khoản Zalo tên “Gin” phía quý cơ quan cung cấp không đủ nên VNG không thể hỗ trợ cung cấp thông tin như trong Công văn số 623 yêu cầu.
Bộ phận kỹ thuật không lưu thông tin “nội dung tin nhắn đi, tin nhắn đến, cuộc gọi đi, cuộc gọi đến” của các tài khoản Zalo như trong Công văn số 623 yêu cầu.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên: Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSKV8 ngày 28 tháng 08 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ đã truy tố bị cáo Lê Quý Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Quý Đ đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Lê Quý Đ; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Quý Đ từ 02 năm 6 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai, phù hợp với lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Lê Quý Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản hỏi cung, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai và phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 05/5/2025, tại khu vực khu đô thị Đ, thuộc phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ), Lê Quý Đ có hành vi bán trái phép 01 túi nilon có chứa ma túy dạng Ketamine và một nửa viên ma túy dạng kẹo với giá 1.800.000 đồng cho Nguyễn Huy H1. Sau khi mua được ma túy, H1 đem ma túy về nhà tạisố LK0202 khu đô thị TMS thuộc tổ H, H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ) sử dụng một phần ma túy Ketamine và nửa viên ma túy dạng kẹo, còn lại 0,3365g ma túy Ketamine thì bị Công an phường H kiểm tra, phát hiện. Hành vi nêu trên của Lê Quý Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 cụ thể khoản 1 Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Phú Thọ truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 22CT – VKSKV8 ngày 28 tháng 8 năm 2025 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trước khi phạm tội bị cáo Đ là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, tạo điều kiện bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Đối với người bán ma tuý cho Đ có tên tài khoản zalo là “Gin”, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh khoản zalo tên “Gin” tại Công ty cổ phần V1 nhưng không xác định được chủ tài khoản, đồng thời tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, danh tính, địa chỉ cụ thể. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý đối tượng theo quy định pháp luật.
[7] Đối với Nguyễn Huy H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất 0,3365g ma túy Ketamine, tuy nhiên H1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cấu thành tôi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với H1 theo quy định. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bà Đỗ Thị T là mẹ của Lê Quý Đ đã giao nộp số tiền 1.600.000 đồng tương ứng số tiền Đ đã thu khi bán ma túy cho H1. Nay bà T không yêu cầu Đ phải hoàn trả nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy cơ quan giám định hoàn lại A2 = 0,1938 gam cùng bao gói, 01 bật lửa gas màu đỏ cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, là tài sản của H1, liên quan đến hành vi vi phạm của H1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Đối với 01 chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Huy H1, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám của Lê Quý Đ sử dụng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.
- - Đối với số tiền 1.800.000 đồng là số tiền bán ma túy cho H1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Tuyên bố bị cáo Lê Quý Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Quý Đ 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 5 năm 2025.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A2 = 0,1938 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong, 01 bật lửa gas màu đỏ; tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 1.805.000 đồng; tịch thu bán phát mại sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám của Nguyễn Huy H1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro, màu xám của Lê Quý Đ (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Quý Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Bích |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quý Đ phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
