Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 9 - 2025

V/v: tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đỗ Quang Dũng.
  • Bà Lê Thị Thu Sương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nguyễn Đoan Trang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 130/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/7/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 21/8/2025 và thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 01/TB-TA, ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Quảng Thị Kim P, sinh năm 1983 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Lưu Quang T, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là tổ dân phố Y, phường B, tỉnh Khánh Hòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P trình bày:

Bà và ông Lưu Quang T chung sống năm 2003 là hoàn toàn tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức cưới hỏi; Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Khánh Hòa).

Sau khi kết hôn vợ chồng sống ở nhà cha mẹ ruột của bà tại Thôn T, xã H, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (nay là tổ dân phố Y, phường B, tỉnh Khánh Hòa); Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, do ông Lưu Quang T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Cụ thể, ngày 03/6/2023 bà đã bắt gặp ông Lưu Quang T đang ôm hôn người phụ nữ khác, từ đó trở đi vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tiếng nói chung; Sau sự việc bà bắt gặp ông Lưu Quang T ngoại tình thì khoảng 10 ngày sau ông Lưu Quang T bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay, một mình bà phải gánh vác công việc gia đình, nuôi dưỡng, chăm sóc cho 02 con. Vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm nay, không còn sống chung với nhau cũng như không quan tâm, chăm sóc hay liên lạc gì với nhau nữa. Bà cùng các con hiện đang sinh sống tại nhà riêng của vợ chồng ở Thôn T, xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là tổ dân phố Y, phường B, tỉnh Khánh Hòa). Bà xác định đã hết tình cảm với ông Lưu Quang T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Lưu Quang T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lưu Thị Huyền S, sinh ngày: 11/12/2009 và Lưu Thị Ngọc T1, sinh ngày: 04/12/2003. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Lưu Thị Huyền S và không yêu cầu ông Lưu Quang T cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Lưu Thị Ngọc T1 đã trên 18 tuổi và lao động tự túc được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay bà đang đi làm thuê, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 6.000.000 đồng nên có đủ khả năng kinh tế để nuôi các con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn: Ông Lưu Quang T trong suốt quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay ông T vẫn cố tình không đến Toà án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lưu Quang T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về phần nội dung: Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận;

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cho bà Quảng Thị Kim P trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung tên Lưu Thị Huyền S, sinh ngày: 11/12/2009. Ông Lưu Quang T không phải câp dưỡng nuôi con chung do bà Quảng Thị Kim P không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn là ông Lưu Quang T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lưu Quang T trú tại phường B, tỉnh Khánh Hòa (cũ là xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;

[1.2]. Đối với việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

Nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lưu Quang T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17/2007, ngày 10/5/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tình trạng hôn nhân, theo nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, do ông Lưu Quang T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã ly thân khoảng 02 năm nay, không còn sống chung với nhau cũng như không quan tâm, chăm sóc hay liên lạc gì với nhau nữa. Bà xác định đã hết tình cảm với ông Lưu Quang T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Lưu Quang T.

Tại đơn xin xác nhận về tình trạng hôn nhân của mình như phần trình bày tại Tòa án và đã được ông Vạn Toàn, trưởng Thôn T, xã H, thành phố PR, tỉnh Ninh Thuận (nay là tổ dân phố Y, phường B, tỉnh Khánh Hòa) xác nhận: “Theo đơn trình bày của bà Quảng Thị Kim P là đúng”. Điều đó thể hiện rõ việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T là có thật. Hơn nữa, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông Lưu Quang T không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Quảng Thị Kim P mặc dù Toà án đã thực hiện đúng thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật và thông báo cho ông Lưu Quang T biết để ông Lưu Quang T có trách nhiệm: “phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo” nhưng ông Lưu Quang T không chấp hành, chứng tỏ ông Lưu Quang T xem thường pháp luật, không có thiện chí đoàn tụ gia đình, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Điều này cũng thể hiện ông Lưu Quang T không thiết tha gì trong việc bảo vệ hạnh phúc gia đình của riêng mình, từ bỏ các quyền mà pháp luật quy định, kể cả quyền yêu cầu Toà án giải quyết cho vợ chồng đoàn tụ.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T đã thật sự gay gắt làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Quảng Thị Kim P yêu cầu xin được ly hôn với ông Lưu Quang T là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung:

Xét yêu cầu được nuôi con của bà Quảng Thị Kim P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T không còn sống chung thì cháu Lưu Thị Huyền S, sinh ngày: 11/12/2009 do bà Quảng Thị Kim P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hơn nữa, cháu Lưu Thị Huyền S cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Lưu Thị Huyền S cho bà Quảng Thị Kim P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp. Đối với con chung Lưu Thị Ngọc T1, sinh ngày: 04/12/2003 hiện nay cháu đã trên 18 tuổi và có đủ khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Quảng Thị Kim P xác định có đủ khả năng để nuôi con nên không yêu cầu ông Lưu Quang T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung:

Bà Quảng Thị Kim P và ông Lưu Quang T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập tới.

[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về án phí:

Bà Quảng Thị Kim P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án; điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 81/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định về áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gai đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P.

1. Về hôn nhân: Bà Quảng Thị Kim P được ly hôn với ông Lưu Quang T.

2. Về con chung: Giao cháu Lưu Thị Huyền S, sinh ngày: 11/12/2009 cho bà Quảng Thị Kim P là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Lưu Quang T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Quảng Thị Kim P không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Bà Quảng Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001058 ngày 13/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Khánh Hòa). Bà Quảng Thị Kim P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P và bị đơn ông Lưu Quang T, quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND khu vực 5 - Khánh Hòa;
  • - THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - UBND xã H (GCNKH số: 01/2019, ngày 02/01/2019);
  • (Nay là UBND phường B);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA về tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

  • Số bản án: 44/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quảng Thị Kim P ly hôn, tranh chấp nuôi con với Lưu Quang T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger