TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2025/HNGĐ-PT.
Ngày 28/11/2025.
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Ông Nguyễn Gia Lương
Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 56/2025/TLPT- HNGĐ ngày 17/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 60/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐ-PT ngày 21/11/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 06/5/1959 (có mặt)
Căn cước công dân số: 024059007494
Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh ngày 04/01/1960 (có mặt)
Căn cước công dân số: 024160015581
Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị H1 kết hôn với nhau năm 1979, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nhưng Giấy đăng ký kết hôn do thời gian lâu nên đã thất lạc, hiện tại không còn. Được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong vợ chồng cùng nhau chung sống tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh). Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến năm 2018 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bà H1 có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Ông và bà H1 đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay ông xác định vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị H1.
- Về con chung: Ông và bà Trần Thị H1 có 03 con chung là Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 và Nguyễn Văn C, sinh năm 1986. Do các con chung đã trưởng thành và đã xây dựng gia đình nên ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn chị Trần Thị H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 1979, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nhưng Giấy đăng ký kết hôn thì bà không rõ là còn hay đã mất. Được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong bà về nhà ông H làm dâu ngay, vợ chồng sống ở thôn Ứ, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến năm 2019 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà mắc bệnh hiểm nghèo vào năm 2017, ông H thường xuyên say rượu về đòi tiền và đánh đập bà và ông H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Bà đã nộp đơn lên UBND phường P để giải quyết vụ việc này và đang chờ kết quả để giải quyết việc ông H đi ngoại tình với người đàn bà khác 06 năm nay và hiện nay ông H còn ruồng rẫy vu khống cho bà theo trai. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Bà và ông H đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay bà xác định vợ chồng mâu thuẫn cũng do ông Nguyễn Văn H về đánh đập bà, quấy nhiễu gia đình các con của bà và ông H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Việc mâu thuẫn là lỗi của ông H, nên hiện tại ông H khởi kiện ly hôn bà mong muốn ông H về đoàn tụ để cùng nhau xây dựng gia đình và cho con cái đỡ khổ nên bà không đồng ý ly hôn. Bà cũng đề nghị Tòa án xem xét theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn H 03 con chung là Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984 và Nguyễn Văn C, sinh năm 1986. Do các con chung đã trưởng thành và đã xây dựng gia đình nên bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết vấn đề về tài sản chung, nợ chung.
* Với nội dung nêu trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh đã quyết định: Cho ông Nguyễn Văn H được ly hôn bà Trần Thị H1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
* Ngày 05/9/2025 bị đơn là bà Trần Thị H1 có đơn kháng cáo không đồng ý ly hôn với ông H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.
- Bà Trần Thị H1 trình bày: Bà vẫn còn thương yêu ông H, ông có quan hệ với người phụ nữ khác nhưng đến nay bà chấp nhận bà chỉ mong muốn ông về đoàn tụ con cái có bố mẹ và các cháu có ông bà.
- Ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông không còn tình cảm gì với bà H1, ông chịu đựng bà đã nhiều năm và việc ông có quan hệ với người phụ nữ khác là đúng, trường hợp tòa không chấp nhận yêu cầu ly hôn, ông cũng không về chung sống với bà H1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị H1 được miễn án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Xét nội dung kháng cáo của bà Trần Thị H1 không đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn H, HĐXX thấy:
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị H1 đều trình bày ông, bà kết hôn với nhau vào năm 1979 trên cơ sở tự nguyện, khi cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L (nay là xã N, tỉnh Bắc Ninh). Tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên ông bà đã làm mất giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn ông bà có 03 con chung. Tòa án đã thực hiện việc xác minh và thu thập chứng cứ tại UBND xã N nhưng do xã không còn sổ lưu trữ nên không xác định được việc kết hôn của ông H và bà H1. Tuy nhiên, ông H và bà H1 cùng thừa nhận, nên được coi đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a mục 3 Nghị Quyết 35/2000/QH1009/6/2000 của Quốc hội quy định: “Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý và giải quyết theo quy định về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Do vậy, ông H và bà H1 kết hôn vào thời điểm năm 1979, trước ngày 03/01/1987 nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Đến ngày 18/5/2022 ông bà có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã N.
Theo ông H trình bày vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã và bà H1 có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên ông đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Theo bà H1 trình bày mâu thuẫn vợ chồng là do bà mắc bệnh hiểm nghèo vào năm 2017, ông H thường xuyên say rượu về đòi tiền và đánh đập bà, ông H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác; bà không đồng ý ly hôn là để cho con cái có trọn vẹn gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông H xác định giữa ông và bà H1 đã không còn tình cảm từ lâu, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 không chung sống cùng nhau nữa. Nếu không được ly hôn thì ông cũng không quay về sinh sống cùng bà H1 nữa. Bà H1 cũng xác định vợ chồng bà hiện nay không chung sống cùng nhau và đã ly thân từ năm 2018, ông H hiện nay đang chung sống cùng người phụ nữ khác. Bà mong muốn vợ chồng đoàn tụ để gia đình trọn vẹn và không ảnh hưởng đến con cái nhưng bà H1 không chứng minh được sau khi xét xử sơ thẩm bà có biện pháp gì tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng hay hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện tháng 12/2024 ông H đã nộp đơn xin ly hôn bà H1, ngày 31/3/2025, TAND huyện Lục Nam (cũ) đã ra quyết định đình chỉ vụ án số 25/2025/QÐST- HNGĐ với lý do ông H rút đơn khởi kiện. Nay ông H tiếp tục xin ly hôn bà H1, bà H1 không nhất trí ly hôn ông H. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để ông H và bà H1 về đoàn tụ, nhưng ông H không có nguyện vọng đoàn tụ và kiên quyết xin ly hôn. Đồng thời bà H1 liên tục có đơn viết về mâu thuẫn của hai vợ chồng trong thời gian ông bà sống chung. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định mâu thuẫn giữa ông H và bà H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được đã căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho ông H được ly hôn bà H1 là phù hợp. Do vậy Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà H1 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[2]. Từ những nội dung trên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm 45/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị H1 là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 45/2025/HNGĐ-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Bắc Ninh.
Án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị H1 được miễn án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 44/2025/HNGĐ-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 44/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
