TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 09-12-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sơn;
Bà Đàm Thiếu Phương.
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại nhà văn hóa thôn B, xã T, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lương Văn Đ; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1972 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: 020072010882; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn L (đã chết); con bà: Bế Thị N (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 09/7/2025; tạm giam từ ngày 15/7/2025 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Nông Thế Q; sinh ngày 31 tháng 8 năm 1987 tại tỉnh Lạng Sơn; số căn cước công dân: 020087008887; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn H (sinh năm 1959); con bà: Nông Thị X (sinh năm 1964); vợ: Hoàng Thị L1; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ ngày 09/7/2025; tạm giam từ ngày 15/7/2025 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị L1, sinh năm 1990. Trú tại: Thôn Đ, xã T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn H1. Vắng mặt.
- Bà Nông Thị T. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 05/7/2025, Lương Văn Đ sử dụng số điện thoại 0385.116.534 gọi đến số điện thoại 0357.973.862 của Nông Thế Q rủ đến nhà mình để cùng góp tiền mua ma túy sử dụng. Khi Nông Thế Q đến, Lương Văn Đ đưa cho Nông Thế Q 130.000 đồng, Nông Thế Q bỏ ra 70.000 đồng rồi đi tới ngã tư M thuộc khu C, xã T, tỉnh Lạng Sơn mua 01 gói ma túy heroine với giá 200.000 đồng với 01 người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, Nông Thế Q cất gói ma túy vào túi quần đang mặc rồi quay trở về nhà Lương Văn Đ. Tại bàn uống nước nhà Lương Văn Đ, Nông Thế Q đem gói ma túy vừa mua được ra đặt trên bàn rồi xé giấy bạc từ bao thuốc lá của Nông Thế Q cầm theo, sau đó Nông Thế Q đổ ma túy vào giấy bạc rồi dùng bật lửa màu đỏ Nông Thế Q có sẵn để trong bao thuốc lá đốt hít một nửa số ma túy, sau đó Nông Thế Q đưa giấy bạc đựng số ma túy còn lại và bật lửa cho Lương Văn Đ để đốt hít hết phần ma túy còn lại. Sau khi đốt hết ma túy, Lương Văn Đ vứt giấy bạc vào thùng rác, cả hai ngồi uống nước, nói chuyện một lúc thì Nông Thế Q đi về.
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 07/7/2025, Lương Văn Đ tiếp tục gọi điện cho Nông Thế Q tới nhà của mình, cùng góp mỗi người 100.000 đồng để mua ma tuý về sử dụng. Nông Thế Q ra khu vực ngã tư M thuộc khu C, xã T, tỉnh Lạng Sơn gặp người đàn ông lạ mặt mua 200.000 đồng được 01 gói ma túy heroine. Sau khi mua được ma túy, Nông Thế Q đem về nhà Lương Văn Đ, cả hai đã cùng nhau tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Lương Văn Đ.
Quá trình điều tra thu giữ của Lương Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; 01 bật lửa ga màu đỏ; thu giữ trong thùng rác của nhà Lương Văn Đ 02 mảnh giấy bạc. Thu giữ của Nông Thế Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Bị cáo Nông Thế Q khai, bị cáo sử dụng xe điện để đi mua ma túy, chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ của bị cáo không biết. Người chứng kiến khai được chứng kiến việc tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Hoàng Thị L1 khai, chị là vợ của bị cáo Nông Thế Q, chiếc xe điện là tài sản chung của vợ chồng chị, việc bị cáo Nông Thế Q sử dụng xe đi mua ma túy chị không biết. Quá trình điều tra chị không bị thu giữ xe.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSKV2 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố các bị cáo Lương Văn Đ, Nông Thế Q về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lương Văn Đ, Nông Thế Q pham tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 38; 50; 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo Nông Thế Q từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các mảnh giấy bạc, bật lửa ga; tịch thu ngân sách Nhà nước các điện thoại di động. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, không ai có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình; mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 05/7/2025 và ngày 07/7/2025, bị cáo Lương Văn Đ và Nông Thế Q đã 02 lần có hành vi cùng nhau góp tiền để Nông Thế Q đi mua ma tuý về nhà của Lương Văn Đ cùng sử dụng. Bị cáo Lương Văn Đ là người cung cấp địa điểm sửa dụng ma túy. Bị cáo Nông Thế Q là người cung cấp công cụ để sử dụng ma túy.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.
[5] Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các vật chứng thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lương Văn Đ và Nông Thế Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Các bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tiền án, tiền sự; chưa từng bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
[9] Xét vai trò đồng phạm: Bị cáo Lương Văn Đ là người chủ động rủ rê bị cáo Nông Thế Q cùng góp tiền mua ma túy để sử dụng. Lần thứ nhất bị cáo Lương Văn Đ góp nhiều tiền hơn bị cáo Nông Thế Q; lần thứ hai các bị cáo góp số tiền ngang nhau để mua ma tuý. Bị cáo Lương Văn Đ sử dụng nhà của mình làm địa điểm để sử dụng ma tuý. Bị cáo Nông Thế Q là người thực hành tích cực, cùng góp tiền, chủ động đi mua ma tuý, chuẩn bị công cụ là giấy bạc, bật lửa để sử dụng ma tuý. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ.
[10] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị.
[11] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ bật lửa, các mảnh giấy bạc là công cụ phạm tội, không còn giá trị; tịch thu sung ngân sách Nhà nước các điện thoại di động là phương tiện các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ nhau tổ chức sử dụng ma tuý theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[12] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử thì được chấp nhận, các ý kiến không phù hợp thì không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 17, 38; 50; 58 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1, 4 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh
- Về hình phạt
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
- 01 (một) bật lửa ga màu đỏ nhãn hiệu “THONG NHAT", cũ, đã qua sử dụng;
- 01 (một) mảnh giấy bạc có kích thước 5,5cm x 3cm;
- 01 (một) mảnh giấy bạc có kích thước 5,4cm x 3cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu tím, số IMEI: 866685076288019, màn hình bị vỡ kính cường lực, cũ, đã qua sử dụng, lắp 01 (một) sim số thuê bao: 0357.973.862;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, số IMEI: 866816051743542, cũ, đã qua sử dụng, lắp 01 (một) sim số thuê bao: 0385.116.534.
- Án phí
- Quyền kháng cáo
Tuyên bố bị cáo Nông Thế Q, Lương Văn Đ phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Nông Thế Q 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/7/2025.
Xử phạt bị cáo Lương Văn Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 09/7/2025.
3.1. Tịch thu tiêu huỷ
3.2. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lạng Sơn theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/11/2025 giữa Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lạng Sơn).
Các bị cáo Nông Thế Q, Lương Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/12/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ ngày 05/7/2025 và ngày 07/7/2025, bị cáo Lương Văn Đ và Nông Thế Q đã 02 lần có hành vi cùng nhau góp tiền để Nông Thế Q đi mua ma tuý về nhà của Lương Văn Đ cùng sử dụng. Bị cáo Lương Văn Đ là người cung cấp địa điểm sửa dụng ma túy. Bị cáo Nông Thế Q là người cung cấp công cụ để sử dụng ma túy.
