Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Bản án số: 43/2025/HSST

Ngày 03/12/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Khánh Uẩn- Cán bộ hưu trí;
  • Bà Nguyễn Thị Thúy- Giáo viên;
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7- Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiển sát nhân dân Khu vực 7- Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Sỹ Q - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST- HS ngày 14/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST- HS ngày 20/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Phan Thế P, sinh năm 2003; HKTT: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Phan Thế P1, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1980; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T– Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Đào Xuân H, sinh ngày 18/11/2007 (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 9 tháng 2 ngày); HKTT: Thôn T, xã Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Đào Văn T, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 139 ngày 24/10/2023 Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Xuân H bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi mang theo người vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ có khả năng sát thương, đồ vật phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác.

Tại Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024, của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Đào Xuân H 20 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 40 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự (Ngày bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội của bán án này là ngày 16/3/2024, khi đó bị cáo H được 16 tuổi 03 tháng).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T – Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đào Xuân H: Chị Đào Thị Thanh H1, sinh năm 2003; HKTT: Thượng Thôn, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
  • * Người bào chữa cho bị cáo Đào Xuân H: Bà Phan Thị Thu H2– Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T6. (Có mặt)
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2006; HKTT: Thôn K, xã Đ, TP Hà Nội. (vắng mặt)
  • - Bà Lê Thị N, sinh năm 1980; HKTT: Thôn K, xã Đ, TP Hà Nội. (vắng mặt)
  • - Chị Trương Thị T2, sinh năm 1990; HKTT: Thôn Đ, xã Y, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/8/2025, Phan Thế P điều khiển chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, không đeo biển kiểm soát (Xe mang biển kiểm soát: 89E1-64542, số máy: JA39E1142168, số khung: 3916KY280185, tuy nhiên P đã tháo biển kiểm soát khi sử dụng) của chị Trương Thị T2 đến cây xăng Y địa chỉ tại đường T thuộc thôn P, xã Y thì gặp anh Lê Quang M, sinh năm 2008, trú tại: thôn K, xã Đ, TP Hà Nội điều khiển xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 29S7-056.22, số máy: JA70E0198376, số khung: RLHJA3934PY133906 chở sau Nguyễn Văn C (xe mô tô của bà Lê Thị N là mẹ của C); Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 2010, trú tại: thôn K, xã Đ, TP Hà Nội đi chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 99 H1-347.65 của bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1973, trú tại: thôn K, xã Đ, TP Hà Nội (là mẹ đẻ anh Nguyễn Hoàng L) chở anh Lê Mạnh T4, sinh năm 2010, trú tại: thôn C, xã S, TP Hà Nội ngồi sau, đang đi từ Công ty D thuộc KCN Y, Bắc Ninh để về nhà. Khi đến đoạn cây xăng Y, cả 2 xe nhóm anh C rẽ vào đổ xăng. Lúc này, P cho rằng anh C là người hôm trước đó đã “vỉa đầu xe”, trêu ghẹo P nên P điều khiển xe mô tô đến quán C1 ở Khu đô thị M, xã Y (cách cây xăng khoảng 30 m) đón bạn là Đào Xuân H. Khi gặp H, P nói chuyện với H về việc P có mâu thuẫn với anh C và rủ H đi cùng mục đích để đánh, dọa, cảnh cáo anh C thì H đồng ý. Sau đó, P điều khiển chiếc xe mô tô Honda Wave không đeo biển kiểm soát chở H ngồi sau cầm theo 01 chiếc gậy ba khúc chuôi màu đen khi rút ra dài khoảng 80 cm, thu vào dài khoảng 30 cm (H mua trên mạng trước đó) quay lại cây xăng Y. Khi đi đến cây xăng Y, do thấy hai xe mô tô nhóm anh C đổ xăng chưa xong nên P chở H đến đoạn bên đường đối diện nhà trọ của P thuộc P, Y, tỉnh Bắc Ninh (cách cây xăng Y khoảng 70m) để đợi nhóm C đi qua. Đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, nhóm anh C đổ xăng xong đi sang đường bên phải để đi về theo hướng xã Y đi xã V theo đường TL286 thì P chỉ về hướng nhóm anh C và nói với H: “đây bọn này” và bất ngờ điều khiển xe phóng nhanh qua đường, vòng ra phía sau và đi ngang bằng ở phía sát bên trái xe anh C rồi ép xe M vào sát vỉa hè bên phải đường, đồng thời P nói to: “hôm trước mày đòi đánh ai, mày vỉa đầu ai, mày tạt ai”, xe của anh L không bị chặn nên đi thẳng tiếp đến đoạn gần vòng xuyến trên đường T hướng đi xã V (cách vị trí xe anh C bị ép khoảng 50m). Do không thấy xe M, C đi cùng, anh L nhìn về phía sau thì thấy xe anh C đã bị chặn nên xe anh L dừng lại. Sau khi bị chặn xe, anh M để đổ xe và chạy ngược lại vào quán cà phê phê Start up ở thôn P, xã Y (C vị trí anh C bị ép xe khoảng 80m). Còn anh C đứng lại nói với P và H: “em có làm gì đâu”, H nói to: “làm cái đéo gì”. Tiếp đó, H đưa tay để rút chìa khóa mục đích để C không lấy được xe bỏ chạy, thấy vậy anh C cũng đưa tay ra để rút chìa khóa xe của mình thì H dơ gậy ba khúc lên và nói: “mày định làm gì đấy” khiến anh C không rút được chìa khóa xe của mình. Cùng lúc này, H rút chìa khóa xe của anh C và cầm gậy ba khúc bằng tay phải vụt 01 cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng sườn trái anh C. Bị H vụt, anh C chạy về hướng vòng xuyến đường đi xã V thì dừng lại. Lúc này, P chạy vào nhà trọ của mình (cách vị trí xe đổ khoảng 5m) lấy 01 con dao chuôi bằng gỗ, hình trụ tròn, kích thước 11,6cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21cm, rộng nhất 6,3cm, chạy ra chém 01 cái từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào phần nhựa ở đuôi xe có gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 của anh C khiến phần nhựa gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 rời ra khỏi xe. Sau khi chém rời phần nhựa đuôi xe, Phong cầm phần nhựa gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 để lên yên xe anh C và mang dao vào nhà trọ. Khi đang mang dao về phòng trọ, P nhìn quay lại thì thấy anh C đi đến vị trí của chiếc xe 29S7-056.22, nên P dơ dao lên và nói: “mày quay lại đây, mày quay lại đây” mục đích là để dọa đánh C. Bị P dùng dao dọa, anh C tiếp tục chạy về hướng vòng xuyến. Do mục đích chặt phần nhựa gắn biển kiểm soát xe của anh C nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản nên P, H vẫn để xe nằm ở nguyên vị trí ban đầu rồi bỏ đi. Lúc này khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, P chở H đến quán C1 ở KĐT mới, Y. Tại đây, H để lại chìa khóa tại quán, còn gậy ba khúc H cho người khác mượn tên là M1 sinh năm 2007 ở Đ cũ (nay là Văn M2) địa chỉ cụ thể H không rõ. Sau khi H và P bỏ đi, anh L chở anh T4 và anh C ngồi sau cùng đến vị trí chiếc xe 29S7-056.22 của C bị chặn đang đổ ở đường. Lúc này, do chìa khóa xe đã bị H rút và cầm đi nên anh C cầm phần nhựa gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 đã bị chặt trên tay và tiếp tục ngồi lên xe anh L đi đến quán C2. Khi đến quán C2 up C đưa phần nhựa gắn biển kiểm soát cho anh T4, anh T4 đặt phần nhựa gắn biển kiểm soát này tại vỉa hè của quán C2. Một lúc sau, anh L gặp người quen là anh Chu Văn T5, sinh năm 2009, trú tại: thôn C, xã V, Bắc Ninh, anh T5 có quen biết P nên nhờ anh T5 xin lại chìa khóa để anh C đi về thì anh T5 đồng ý. Lúc này, anh C và những người còn lại không thấy phần nhựa gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 để ở vỉa hè trước đó. Đến khoảng 21 giờ, P đưa chìa khóa cho anh T5 thì anh T5 đưa lại chìa khóa cho anh L để anh L đưa lại cho M. Sau đó, nhóm anh C đến vị trí xe để lấy xe đi về. Đến ngày 28/8/2025, Nguyễn Văn C đến Công an xã Y, tỉnh Bắc Ninh trình báo vụ việc trên. Vụ việc to tiếng, đuổi đánh nhau diễn ra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc là 15 phút (từ 20 giờ 35 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 20/8/2025) tại lòng đường TL 286 thuộc địa phận thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh là khu vực đông dân cư sinh sống, nhiều phường tiện di chuyển qua lại đã gây mất trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Ngày 30/8/2025, Ủy ban nhân dân xã Y và Trưởng thôn P, xã Y có Công văn đề nghị xử lý các đối tượng trên theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ: Phan Thế P giao nộp 01 con dao chuôi gỗ, hình trụ tròn, chuôi dao có kích thước 11,6cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21 cm, rộng nhất 6,3 cm; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS 89 E1-645.42, số máy: JA39E1142168, số khung: 391KY280185 đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tái sản số 01/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản, UBND xã Y, tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 phần nhựa đuôi xe có gắn BKS 29S7-056.22 của xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh BKS: 29S7-056.22 số máy FA70E0198376, số khung RLHJS3934PY133906 (đã qua sử dụng) giá trị là 100.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS- KV 7 ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phan Thế Phong về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và bị cáo Đào Xuân H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố trước phiên tòa, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo H trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo H, vì bị cáo chưa thành niên, hiểu biết pháp luật còn hạn chế và bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an khu vực G - Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản đầu thú và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 35 phút đến 20 giờ 50 phút ngày 20/8/2025, tại lòng đường TL 286 thuộc địa phận thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh, Phan Thế P rủ Đào Xuân H cầm theo gậy ba khúc điều khiển xe mô tô Honda Wave, không đeo biển kiểm soát ép xe, chặn xe, sau đó nói to tiếng, H sử dụng 01 chiếc gậy ba khúc chuôi màu đen khi rút ra dài khoảng 80 cm, thu vào dài khoảng 30 cm vụt 01 cái vào sườn anh Nguyễn Văn C; P dùng dao chặt đứt phần nhựa gắn biển kiểm soát 29S7-056.22 xe mô tô của anh Nguyễn Văn C. Hành vi P điều khiển xe mô tô cắt ngang nhanh sang đường, H dùng gậy ba khúc vụt vào người anh C và P có hành vi dùng dao chặt phần nhựa của xe mô tô của anh C, nói to tiếng tại đoạn đường TL 286, là khu vực đông dân cư thuộc địa phận thôn P, xã Y, tỉnh Bắc Ninh đã gây mất trật tự an toàn giao thông và ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phan Thế P đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b, d khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đào Xuân H đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải đưa ra xét xử kịp thời và xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và phòng ngừa chung trong nhân dân.
  4. Xét về tính chất của vụ án, vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công nhiệm vụ. Bị cáo P điều khiển xe mô tô cắt ngang nhanh sang đường, ép xe, chặn xe, nói to tiếng và có hành vi dùng dao chặt phần nhựa của xe mô tô của anh C. Bị cáo H nói to tiếng và có hành vi dùng gậy ba khúc vụt vào sườn bên trái anh C. Tuy nhiên, bị cáo H phạm tội là do bị rủ rê nên có vai trò thứ yếu trong vụ án.
  5. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo P có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo H không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu vì đã bị xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo và tại bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt bị cáo H 20 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 40 tháng tình từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Tư pháp người chưa thành niên thì hình phạt trên của bị cáo H được coi là không có án tích. Ngoài ra, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bản thân các bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú. Bị cáo P có bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vì vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo P rủ rê bị cáo H và khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều sử dụng hung khí. Năm 2024, bị cáo H đã bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng lần này bị cáo lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự thiếu tu dưỡng, coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với bị cáo H khi thực hiện hành vi phạm tội đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ quy định tại Điều 12; khoản 1 Điều 119, Khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên thì mức hình phạt được áp dụng là không quá 3/5 mức hình phạt quy định của điều luật. Bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách nên căn cứ vào khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật hình sự, bị cáo phải chấp hành hình phạt 20 tháng tù của Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong (cũ), tỉnh Bắc Ninh và tổng hợp với hình phạt của bản án này.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H dùng gậy ba khúc đánh anh C nhưng do chỉ bị thương phần mềm, không để lại thương tích ảnh hưởng đến sức khỏe, không phải đi thăm khám ở cơ sở y tế nào nên anh C không đề nghị gì. Đối với phần nhựa đuôi xe mô tô BKS 29S7-056.22 do P dùng dao chặt hỏng, anh T4 để tại vỉa hè của quán C2 up nhưng bị mất, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, bà N và anh C đã thay mới, xin cấp BKS mới, vì giá trị nhỏ nên bà N và anh C không yêu cầu bồi thường. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao chuôi gỗ, hình trụ tròn, chuôi dao có kích thước 11,6 cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21 cm, rộng nhất 6,3 cm là hung khí bị cáo P sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với gậy ba khúc bị cáo H dùng đánh anh C, sau đó H đã cho bạn tên M1 ở Đ (nay là xã V) nhưng H không biết rõ họ tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể của M1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không thấy chiếc gậy ba khúc đó.

Về 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, đen bạc, BKS 89 E1-645.42, số máy : JA39E1142168, số khung: 391KY280185 (đã qua sử dung) do bị cáo P giao nộp là tài sản hợp pháp của chị Trương Thị T2. Vì vậy, ngày 28/9/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh B đã trả lại chiếc xe mô tô này cho chị Trương Thị T2 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với hành vi dùng dao chém 01 cái vào phần nhựa đuôi xe mô tô BKS 29S7-056. 22 gây thiệt hại 100.000 đồng của bị cáo P, do giá trị thiệt hại chưa đủ để khởi tố, truy tố và các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên Công an xã Y đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Phan Thế P và Đào Xuân H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Thế P 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 56, Điều 58, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 12; khoản 1 Điều 119; điểm b khoản 1 Điều 127; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Đào Xuân H 15 tháng tù. Tổng hợp với 20 tháng tù của Bản án số 138/2024/HSST ngày 28/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong (cũ), tỉnh Bắc Ninh, buộc bị cáo Đào Xuân H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 35 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao chuôi gỗ, hình trụ tròn, chuôi dao có kích thước 11,6cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 21 cm, rộng nhất 6,3 cm (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/11/2025).
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 7- Bắc Ninh;
  • - Cơ quan điều tra- Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phân trại tạm giam Từ Sơn/Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HSST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH về hình sự - gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 43/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger