Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - QUẢNG NINH

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 25-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Xuân Sớm và ông Nguyễn Văn Giới

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C, tên gọi khác không; sinh ngày 10/11/1989, tại phường B, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú khu H, phường B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp không; Trình độ học vấn 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị T1; vợ là Nguyễn Thị H; con chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; Nhân thân: Ngày 31/12/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”, ngày 11/11/2022 chấp hành xong án phạt tù; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 17/6/2025, tạm giam kể từ ngày 26/6/2025, có mặt.
  2. Trần Văn H1, tên gọi khác không; sinh ngày 03/3/1989, tại phường M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú Tổ G, khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp lao động phổ thông; Trình độ học vấn 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T2 và bà Phạm Thị A; vợ là Nguyễn Thị H2; có hai con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án Ngày 29/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3), tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 17/01/2023, chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự chưa; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 17/6/2025, tạm giam kể từ ngày 26/6/2025, có mặt.
  3. Nguyễn Văn T3, tên gọi khác không; sinh ngày 28/7/1986, tại phường M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú tổ E, khu D, phường M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp không; Trình độ học vấn 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng N và bà Nguyễn Thị H3; vợ là Đào Thị H4; có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: chưa; nhân thân ngày 25/3/2021 bị cáo cai nghiện ma túy tự nguyện thời gian một năm đến ngày 18/3/2022 hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 17/6/2025, tạm giam kể từ ngày 26/6/2025, có mặt.

- Người làm chứng chị Nguyễn Thị H2 sinh năm 1987, nơi thường trú tổ C, khu V, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

- Người chứng kiến:

  • + Ông Phạm Văn M sinh năm 1962, nơi thường trú tổ A, khu D, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • + Ông Phạm Kim V sinh năm 1957, nơi thường trú tổ A, khu D, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
  • + Ông Đoàn Thế V1 sinh năm 1965, nơi thường trú tổ E, khu D, phường M, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C, Trần Văn H1 và Nguyễn Văn T3 có quan hệ là bạn bè và đều sử dụng ma túy. Tối ngày 15/6/2025, C liên lạc với H1 qua ứng dụng Z bảo đi mua ma túy "đá" về cùng sử dụng. H1 đồng ý, nhưng do không có tiền nên H1 bảo C hỏi vay tiền của vợ H1 là chị Nguyễn Thị H2 để mua ma túy. Một lát sau, C đi xuống nhà H1 gặp và hỏi vay của chị H2 1.000.000 đồng, nói là để mua vật tư, chị H2 đồng ý và chuyển khoản 1.000.000 đồng vào tài khoản của C. Sau khi có tiền, C và H1 đi xuống nhà của Nguyễn Văn T3 ở tổ E, khu D, phường M, tỉnh Quảng Ninh, bảo T3 mua giúp ma túy “đá” để cả ba cùng sử dụng. T3 đồng ý và nói ma túy mua sẽ gửi qua xe khách nên phải đợi, rồi T3 gọi điện thoại cho người đàn ông tên là L (không rõ lai lịch, địa chỉ) đặt mua 1.000.000 đồng ma túy. L gửi mã QR cho T3 để thanh toán tiền mua ma túy. T3 chuyển mã QR cho H1, H1 đưa mã QR cho C để C chuyển 1.000.000 đồng tiền mua ma túy cho L.

Sáng ngày 16/6/2025, C và H1 đến nhà Trường, khoảng 10 giờ cùng ngày T3 đi lấy đồ do L gửi xe khách rồi đem về nhà mở ra thấy bên trong có 01 (một) hộp nhựa hình tròn màu trắng đựng 01 (một) túi nilon chứa ma túy. T3 cầm túi ma túy cùng C, H1 đi vào phòng ngủ của T3, rồi T3 đổ ½ túi ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên mặt bàn, ½ túi ma túy còn lại thì đưa cho C. Sau đó, T3 dùng bật lửa gas đốt nóng ma túy để sử dụng, tiếp theo T3 đốt nóng ma túy cho H1 và C sử dụng. Cả ba sử dụng được khoảng 05 đến 06 lượt, thì không sử dụng nữa. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, H1 và C ra về, trên đường về C đã làm rơi mất túi ma túy còn lại.

Khoảng 14 giờ cùng ngày, C và H1 tiếp tục đến nhà Trường thì thấy T3 đang làm vách tường nhà. C và H1 đi vào phòng ngủ của T3, H1 lấy bộ đồ sử dụng ma túy đã sử dụng trước đó, thấy bên trong cóng thủy tinh vẫn còn ma túy, nên dùng bật lửa gas đốt nóng ma túy rồi sử dụng trước, sau đó H1 đốt nóng ma túy cho C sử dụng, cả 2 thay phiên nhau sử dụng khoảng 05 đến 06 lượt thì hết ma túy trong cóng thủy tinh, H1 đi ra phòng khách cùng T3 làm vách tường, C cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào gầm tủ rồi đi ra ngoài. Khoảng 14 giờ 55 phút cùng ngày tổ công tác Công an phường M kiểm tra hành chính nơi ở của T3 và phát hiện Trường, C và H1 có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành thu giữ mẫu nước tiểu.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T3, thu giữ: 01 (một) vỏ hộp bằng bìa giấy cứng kích thước (23x19x19)cm, mặt ngoài đề nhãn hiệu “HIEP HUNG HI TECH”; 01 (một) túi nilon kích thước (2,2x2,2)cm, bám dính chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1); 01 chai nhựa màu trắng hình hồ lô, trên nắp chai có 02 lỗ, được gắn 01 chiếc ống hút nhựa và 01 chiếc cóong bằng thủy tinh có bầu tròn bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng nâu (kí hiệu M2); 01 chiếc lọ bằng nhựa màu trắng hình trụ tròn bên trong chứa 98 (chín mươi tám) viên nhộng màu vàng (kí hiệu M3); 01 chiếc túi nilon màu đen đã bị rách kèm 02 mảnh bìa giấy cứng không rõ hình; 01 bật lửa gas gắn đầu đốt.

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 17/6/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C và Trần Văn H1.

Tại các bản Kết luận giám định số 789 và 790 ngày 23/6/2025, của Phòng K Công an tỉnh Q và bản Kết luận giám định (bổ sung) số 5899 ngày 12/8/2025, của V2 Bộ C1 kết luận:

  • - Mẫu vật kí hiệu từ M1 đến M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • - Mẫu vật kí hiệu M3 có tổng khối lượng 137,61 gam (một trăm ba bảy phảy sáu một gam). Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu viên nhộng mềm màu vàng gửi giám định.
  • - Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C, Trần Văn H1 gửi giám định.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn C, Trần Văn H1 và Nguyễn Văn T3 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra T3 khai 01 túi nilon bám dính chất ma túy (kí hiệu M1) là túi đựng ma túy do T3 mua trước đó, đã một mình sử dụng hết; 98 (chín mươi tám) viên nhộng màu vàng (kí hiệu M3) bị thu giữ là thuốc chữa bệnh của T3.

Vật chứng của vụ án: tạm giữ của C 01điện thoại di động Oppo Reno 5; tạm giữ của H1 02 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và R; tạm giữ của T3 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus, 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk Ultra 32gb, 01 bộ đồ sử dụng ma túy, 01 vỏ hộp bìa giấy cứng nhãn hiệu “HIEP HUNG HI TECH”, 01 túi nilon bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 lọ nhựa hình trụ tròn bên trong chứa 98 (chín mươi tám) viên nhộng màu vàng, 01 túi nilon màu đen đã bị rách kèm 02 mảnh bìa giấy cứng không rõ hình, 01 bật lửa gas gắn đầu đốt.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn H1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị H2 có lời khai trong quá trình điều tra thể hiện nội dung: chị H2 là vợ bị cáo H1, khoảng 19 giờ 55 phút ngày 15/6/2025 C đến nhà hỏi vay tiền H1, sau đó H1 bảo chị H2 “ vợ có tiền không cho em nó vay" xong chị H2 có hỏi: “vay bao nhiêu" thì C có trả lời “ cho em vay 1.000.000 đồng mai lấy lương em trả”, chị H2 đồng ý cho vay và không hỏi lý do sau đó chuyển khoản cho C từ số tài khoản của chị H2 109881218020 ngân hàng V3 sang số tài khoản của C 9356403689 ngân hàng V4 số tiền 1.000.000 đồng. Đến khoảng hơn 12h trưa ngày 16/6 H1 cùng C về nhà ăn cơm đến khoảng 13 giờ 46 phút C lấy số tài khoản của chị H2 và chuyển trả chị H2 số tiền 1.000.000 đồng.

Những người chứng kiến ông Phạm Văn M, phạm Kim V và ông Đoàn Thế V1 đều có lời khai tại biên bản ghi lời khai thể hiện nội dung thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 05/CT-VKSKV5 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trần Văn H1 về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm a,b,h khoản 2 Điều 255 và truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T3 về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm a,b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Các điểm a,b,h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 từ 09 (chín) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/6/2025;
  • Các điểm a,b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/6/2025;
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì chứa mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số 789/KL-KTHS (số 01) ngày 23/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 phong bì chứa mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số 5889/C09 (TT2) của V2 Bộ C1; 01 vỏ hộp bằng bìa giấy cứng kích thước (23x19x19)cm bị bẹp méo, mặt ngoài đề nhãn hiệu “HIEP HUNG HI TECH”; 01 túi nilon màu đen đã bị rách kèm 02 mảnh bìa giấy cứng không rõ hình; 01 bật lửa gas gắn đầu đốt; 01 chai nhựa màu trắng hình hồ lô, trên nắp chai có 02 lỗ được gắn 01 chiếc ống hút nhựa; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus; 01 điện thoại di động Oppo Reno 5; 01 điện thoại di động Oppo A12 màu xanh; trả lại bị cáo Trần Văn H1 01 điện thoại di động Redmi Note 14; trả lại bị cáo Nguyễn Văn T3 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandick Ultra 32gb theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn H1 và Nguyễn Văn T3 thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ninh đã truy tố là đúng. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên, không tự bào chữa và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật theo Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh đã truy tố đối với các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến khai báo trực tiếp chứng kiến Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ công cụ bị cáo dùng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng và tiến hành giám định đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực và có cơ sở khoa học, phù hợp với nội dung Bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, Bản kết luận giám định (bổ sung) của V2 Bộ C1, phù hợp với sơ đồ hiện trường, bản ảnh, vật chứng thu giữ cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: tối ngày 15/6/2025, C liên lạc với H1 bảo đi mua ma túy về sử dụng được H1 đồng ý, do không có tiền nên H1 bảo C hỏi vay tiền của vợ H1 là chị H2, C xuống nhà H1 vay của chị H2 1.000.000 đồng, có tiền, C và H1 xuống nhà Trường bảo T3 mua ma túy, T3 liên hệ mua ma túy và gửi qua xe ô tô khách về. Khoảng 10 giờ ngày 16/6/2025 T3 mang ma túy về nhà rồi cùng C và H1 vào phòng ngủ của T3, T3 lấy ½ túi ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại đưa cho C, cả ba sử dụng được khoảng 05 đến 06 lượt thì không sử dụng nữa. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, H1 và C ra về, trên đường về C đã làm rơi mất túi ma túy còn lại. Khoảng 14 giờ cùng ngày, C và H1 tiếp tục đến nhà Trườngthấy T4 đang làm vách tường nhà. C và H1 đi vào phòng ngủ của T4, H1 lấy bộ đồ sử dụng ma túy đã sử dụng trước đó, thấy bên trong cóng thủy tinh vẫn còn ma túy, nên dùng bật lửa gas đốt nóng ma túy rồi sử dụng trước, sau đó H1 đốt nóng ma túy cho C sử dụng, cả 2 thay phiên nhau sử dụng khoảng 05 đến 06 lượt thì hết ma túy trong cóong thủy tinh, T4 biết việc C và H1 vào phòng ngủ của T4 để sử dụng ma túy.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Xét thấy trong vụ án này, các bị cáo Trần Văn H1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 cùng thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine: lần 1 vào khoảng 10 giờ ngày 16/6/2025 và lần hai vào khoảng 14 giờ cùng ngày. Ngoài ra ngày 29/9/2017 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt bị cáo H1 07 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 17/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù, như vậy tính đến thời điểm thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 16/6/2025 thì chưa đủ thời gian ba năm để đương nhiên được xóa án tích theo điểm c khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự, nên lần phạm tội này bị cáo Trần Văn H1 thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm a,b,h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo các điểm a,b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, khách quan, đúng người, đúng tội, và đúng pháp luật.

[4] Xét nhân thân của các bị cáo Trần Văn H1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 cho thấy: các bị cáo là người trưởng thành có nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, nhưng không tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân, ngày 31/12/2021 bị cáo Chuẩn bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”; ngày 25/3/2021 bị cáo T3 cai nghiện ma túy tự nguyện thời gian một năm đến ngày 18/3/2022 hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn vi phạm pháp luật, thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

[5] Xét tính chất đồng phạm và vai trò phạm tội của các bị cáo thấy: các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Bị cáo C là người khởi sướng việc sử dụng ma túy và bỏ ra số tiền 1.000.000đồng mua ma túy để cùng H1 và T3 sử dụng nên đánh giá C có vai trò đầu vụ; H1 bày cách để C đến vay tiền của vợ H1, có tiền H1 dẫn C đến nhà Trường rồi bảo T3 liên hệ mua ma túy và sử dụng ma túy tại nhà Trường, như vậy H1 là người thực hành tích cực nên có vai trò thứ hai, sau đó đến vai trò của bị cáo T3 là người giúp sức liên hệ mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mình.

[6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Trần Văn H1, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.

[8] Về hình phạt:

Sau khi xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần phải xử phạt các bị cáo với một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, nhưng các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về vật chứng và các vấn đề khác:

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định của V2 Bộ C1 gồm 133,292gam các viên nhộng mềm màu vàng và các vỏ bao trong phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định, nay bị cáo T3 nhận thấy không còn giá trị sử dụng và bị cáo không còn nhu cầu sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

Đối với 01 vỏ hộp bằng bìa giấy cứng kích thước (23x19x19)cm bị bẹp méo, mặt ngoài đề nhãn hiệu “HIEP HUNG HI TECH”; 01 túi nilon màu đen đã bị rách kèm 02 mảnh bìa giấy cứng không rõ hình; 01 bật lửa gas gắn đầu đốt; 01 chai nhựa màu trắng hình hồ lô, trên nắp chai có 02 lỗ được gắn 01 chiếc ống hút nhựa xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus; 01 điện thoại di động Oppo Reno 5; 01 điện thoại di động Oppo A12 màu xanh các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách.

Đối với chiếc điện thoại di động Redmi Note 14 gắn sim số bị cáo H1 không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandick Ultra 32gb thu giữ tại nhà bị cáo T3 xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, thi hành án và đây là tài sản hợp pháp của bị cáo T3 nên cần trả lại cho bị cáo T3.

Đối với người đàn ông theo bị cáo T3 khai tên là L đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: các bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[11] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ các điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn H1 phạm tội: “tổchức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn H1 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/6/2025.

  2. Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn T3 phạm tội: “tổchức sử dụng trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/6/2025.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 17/6/2025.

  3. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh Q, của V2 Bộ C1; 01 vỏ hộp bằng bìa giấy cứng kích thước (23x19x19)cm bị bẹp méo, mặt ngoài đề nhãn hiệu “HIEP HUNG HI TECH”; 01 túi nilon màu đen đã bị rách kèm 02 mảnh bìa giấy cứng không rõ hình; 01 bật lửa gas gắn đầu đốt; 01 chai nhựa màu trắng hình hồ lô, trên nắp chai có 02 lỗ được gắn 01 chiếc ống hút nhựa.

    Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus; 01 điện thoại di động Oppo Reno 5; 01 điện thoại di động Oppo A12 màu xanh.

    Trả lại bị cáo T3 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Sandick Ultra 32gb; trả lại bị cáo H1 điện thoại di động Redmi Note 14.

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 06, ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự tỉnh Q).

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Văn H1 và Nguyễn Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 5 - Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQ CSĐT - Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các bị cáo Chuẩn, Hiển và Trường;
  • - CQ THAHS-Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh (nơi đang giam giữ các bị cáo Chuẩn, Hiển và Trường);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HS, VP, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tc sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger