Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 43/2025/HS-ST

Ngày: 29 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Lê Văn Tám.
  2. Ông: Dương Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhớ - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 29 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Minh T (tên gọi khác T1), sinh ngày 20/8/1990, tại tỉnh Tiền Giang (nay tỉnh Đồng Tháp); Số căn cước công dân:[...]; Hộ khẩu thường trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú hiện nay: ấp B, xã N, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Con ông: Võ Minh S (đã chết) và bà: Đặng Thị T2, sinh năm 1976; Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1995 và 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần, Quyết định số 246/QĐ-XPHC ngày 23/12/2024 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nay là xã N, tỉnh Đồng Tháp, xử phạt vi phạm hành chính đối với Võ Minh T số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, bị can đã nộp phạt vào ngày 24/12/2024; Về nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nay là xã N, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 9 thì nghỉ học, cho đến ngày phạm tội; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T3 hoãn xuất cảnh từ ngày 13/6/2025 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1967; (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, tỉnh Đồng Tháp.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1974; (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Anh Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1999; (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã K, tỉnh Đồng Tháp.

* Người làm chứng: Anh Trần Minh T5, sinh năm 1988; (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp H, xã H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Võ Minh T bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nay là xã N, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 246/QĐ-XPHC ngày 23/12/2024 về hành vi trộm cắp tài sản, xử phạt số tiền 2.500.000 đồng, T đã nộp phạt ngày 24/12/2024.

Do không có tiền tiêu xài, T nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, khoảng 11 giờ 15 phút ngày 09/4/2025, T điều khiển xe mô tô biển số 63AS - 033.10 ngang nhà của anh Trần Văn H1, sinh năm 1967, thuộc ấp H, xã Hội Xuân, huyện C, tỉnh Tiền Giang, (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp), thấy cuộn lưới B40 của anh H1 để cặp đường dal cách hàng rào nhà anh H1 2,2 mét, T lén lút lấy trộm cuộn lưới B40 để lên xe mô tô và điều khiển xe chạy về hướng xã N. Khi nghe có tiếng xe máy, anh H1 nhìn ra bên ngoài phát hiện cuộn lưới B40 bị mất trộm, anh H1 truy hô và cùng với anh Trần Minh T5, sinh năm 1988 (ở cạnh nhà anh H1) sử dụng xe mô tô đuổi theo xe của T, khi đến cầu B thuộc ấp H, xã H, huyện C thì chặn dừng xe mô tô của T, sau đó anh H1 trình báo đến Công an xã H2.

Vật chứng thu giữ, gồm:

  • 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 52kg;
  • 01 xe mô tô màu đen gắn biển số 63AS-033.10;
  • 01 cái nón bảo hiểm màu đen;
  • 01 cái áo thun màu xanh lá, loại ngắn tay;
  • 01 cái áo sơ mi sọc caro màu vàng, loại dài tay;
  • 01 cái quần thun màu xanh dương, loại ngắn;
  • 01 đĩa DVD chứa 04 đoạn video trích xuất từ hệ thống camera.

Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 cuộn lưới B40, khối lượng 52kg, đã qua sử dụng, trị giá 650.500 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn năm trăm đồng).

Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh Trần Văn H1 01 cuộn lưới B40 trọng lượng 52 kg.

Đối với xe mô tô biển số 63AS-033.10, qua xác minh xe mô tô này do anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1974, nơi cư trú: ấp Đ, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã K, tỉnh Đồng Tháp) đứng tên giấy chứng nhận đăng ký, anh M cho con ruột là anh Nguyễn Quốc T4, sinh năm 1999 quản lý sử dụng, sáng ngày 09 tháng 4 năm 2025, anh T4 cho Võ Minh T mượn xe để đi làm thuê, anh T4 không biết việc bị can T sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả lại xe mô tô biển số 63AS-033.10 cho anh Nguyễn Quốc T4 là có căn cứ.

Các vật chứng còn lại, tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: anh Trần Văn H1 đã nhận lại cuộn lưới B40 và không yêu cầu bị cáo Võ Minh T bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn M1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, nên không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSKV4 ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Võ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiển sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Minh T đã thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Minh T về tội trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 09 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm. Về trách nhiệm dân sự: người bị hại anh Trần Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện trong hồ sơ đã nhận lại tài sản là cuộn lưới B40 và không yêu cầu bị cáo Võ Minh T bồi thường gì thêm; nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái nón bảo hiểm màu đen; 01 cái áo thun màu xanh lá, loại ngắn tay; 01 cái áo sơ mi sọc caro màu vàng, loại dài tay; 01 cái quần thun màu xanh dương, loại ngắn. Xét đây là tài sản của bị cáo T nhưng bị cáo không nhận lại, nên nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Việc vắng mặt người bị hại anh Trần Văn H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Quốc T4, người làm chứng anh Trần Minh T5: Xét thấy, trong hồ sơ đã có lời khai của những người này và việc vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo T. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt phía người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là tỉnh Đồng Tháp), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 09/4/2025, tại ấp H, xã Hội Xuân, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã H, tỉnh Đồng Tháp), bị cáo T có hành vi lén lút trộm cắp cuộn lưới B40 trọng lượng 52 kg, trị giá 650.500 đồng (sáu trăm năm mươi nghìn năm trăm đồng) của anh Trần Văn H1. Do bị cáo T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm chính mà còn vi phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo T lợi dụng lúc vắng người, không có người để ý và sự mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo T đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được luật pháp nhà nước ta bảo vệ, cụ thể trong vụ án này tài sản của người bị hại anh Trần Văn H1, mà nó còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo T thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo T với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T có tình tiết giảm nhẹ là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo T có không có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản; về trình độ học vấn 9/12 nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo nhưng cũng phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái nón bảo hiểm màu đen; 01 cái áo thun màu xanh lá, loại ngắn tay; 01 cái áo sơ mi sọc caro màu vàng, loại dài tay; 01 cái quần thun màu xanh dương, loại ngắn. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo T nhưng bị cáo không nhận lại mà đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Phía người bị hại anh Trần Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện trong hồ sơ đã nhận lại tài sản là cuộn lưới B40 và không yêu cầu bị cáo Võ Minh T bồi thường gì thêm; nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.

[10] Về án phí: Bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận một phần đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xử: Phạt bị cáo Võ Minh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để chấp hành hình phạt tù.

  3. Về án phí:
  4. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Áp dụng các điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Bị cáo Võ Minh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Tháp;(Đã ký)
  • - VKSND khu vực 4-Đồng Tháp;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Thi hành án Dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo; Phan Thanh Sơn
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 43/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tiến trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger