|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 43/2025/HS-ST Ngày 27 tháng 9 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và ông Nguyễn Thiện Pháp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Huỳnh Trần K, sinh ngày 04/12/2000. Nơi cư trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp B, xã T, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tấn K1, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1978; vợ là Trần Gia M, sinh năm 2006; bị cáo chưa có con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trịnh Thanh H, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp B, xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Võ Thị X, sinh năm 1961. Nơi cư trú: ấp B, xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm L1 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Tấn K1 (có mặt).
- Ông Đoàn Văn Đ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 13 tháng 02 năm 2025, Trịnh Thanh H đang dọn dẹp ki ốt bán quần, áo trong chợ N thuộc khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp B, xã T, tỉnh An Giang), nhìn thấy cây treo quần, áo của Huỳnh Tấn K1 (bán hàng cạnh bên) lấn sang sạp hàng của H nên Hiệp chửi K1, dẫn đến cự cãi nhau, H bỏ về nhà lấy cây đèn pin dài 32cm quay lại thách thức đánh nhau. Lúc này, Huỳnh Trần K (con ruột của K1) đang ngồi trong ki ốt, nghe cự cãi nên đứng ra bênh vực K1. K chạy đến quầy bán hàng của Võ Thị X gần đó, lấy hai cây lưỡi liềm (lưỡi hái) bằng kim loại dài 30cm cầm hai tay, quay lại chém 01 nhát trúng vào tay trái của H, được Nguyễn Thị Cẩm L1 (vợ của H) can ngăn, đưa đến Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh An Giang điều trị, ngày 17 tháng 02 năm 2025 ra viện. Ngày 21 tháng 02 năm 2025, H đến Công an thị trấn N trình báo và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, K bị khởi tố, điều tra về tội cố ý gây thương tích. Quá trình điều tra, xác định lưỡi liềm K sử dụng để gây thương tích cho H là dao có tính xác thương cao, nên ngày 07 tháng 8 năm 2025, K bị khởi tố bổ sung tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Ngày 28 tháng 7 năm 2025, K bồi thường cho H 50.000.000 đồng nên H có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích và không yêu cầu bồi thường thêm.
Vật chứng và tài liệu đồ vật thu giữ: 02 cây lưỡi liềm dài khoảng 30cm, cán cây đèn pin màu đen, dài khoảng 32 cm, có chức năng xẹt điện nhưng đã bị hư hỏng; 15.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 165 ngày 08/4/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận thương tích của Trịnh Thanh H sinh năm 1976:
Các kết quả chính: Sẹo mặt trước cổ tay trái kích thước (4 x 0.2)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc, tỷ lệ 01%. Hiện tại ảnh hưởng ít đến tác động khớp cổ tay trái, tỷ lệ 05%, tỷ lệ 06%; sẹo mặt lòng bàn tay trái ngón I kích thước (4 x 0.1)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc tỷ lệ 01%; sẹo mặt lòng bàn tay trái phía ngón V kích thước (4 x 0.1)cm, sẹo lồi, hồng, bờ sắc 01%; sẹo mặt lòng bàn tay trái phía ngón IV kích thước (01 x 0.1%)cm, sẹo hơi lồi, hồng, tỷ lệ 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 09%.
Căn cứ Kết luận giám định số 2708 ngày 23/6/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 02 cây lưỡi liềm gửi giám định thuộc danh mục dao có tính xác thương cao theo Phụ lục số 05 Danh mục dao có tính xác thương cao (Ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C).
Tại Công văn số 1120 ngày 24/7/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận: 02 cây lưỡi liềm gửi giám định có đặc điểm thuộc chủng loại dao sắc, nhọn của Phụ lục số 05 Danh mục dao có tính xác thương cao (Ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C).
Theo Thông báo số 478 ngày 04/4/2025 của Phòng K2 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Phòng K2 Công an tỉnh A từ chối đề nghị trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A. Lý do đối tượng giám định 02 file video clip gửi giám định không phải là file copy từ dữ liệu gốc mà quay lại màn hình điện thoại.
Tại Cáo trạng số 30/CT-VKSKV10 ngày 09/9/2025 Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Trần K về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Trần K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thanh H, Võ Thị X; người làm chứng Nguyễn Thị Cẩm L1, Nguyễn Thị Ngọc D, Đoàn Văn Đ, Huỳnh Tấn K1 trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Trần K mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, thời gian thử thách từ 03 năm đến 05 năm. Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận và bào chữa gì khác, nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang), Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Thanh H và người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng quy định pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là ấp B, xã T, tỉnh An Giang), bị cáo Huỳnh Trần K đã sử dụng 02 cây lưỡi liềm là dao có tính xác thương cao chém Trịnh Thanh H gây thương tích với tỷ lệ 09%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Trần K đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về vũ khí quân dụng, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Huỳnh Trần K trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có đầy đủ nhận thức và năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi sử dụng 02 cây lưỡi liềm là dao có tính xác thương cao, được xác định là vũ khí quân dụng, nếu tác động vào cơ thể người khác sẽ rất gây nguy hiểm nhưng bị cáo vẫn thực hiện, hậu quả sử dụng làm ông Trịnh Thanh H thương tích tỷ lệ 09%, do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, nhận thức pháp luật hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; nguyên nhân dẫn đến vụ án có phần lỗi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Thanh H. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với hành vi bị cáo Huỳnh Trần K gây thương tích cho Trịnh Thanh H với tỷ lệ 09%, do H tự nguyện có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên ngày 09 tháng 9 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị cáo K về tội “Cố ý gây thương tích”.
[5] Về vật chứng: Đối với 02 cây lưỡi liềm dài khoảng 30cm, cán cây đèn pin màu đen, dài khoảng 32 cm, có chức năng xẹt điện nhưng đã bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp trong quá trình điều tra cần trả lại cho bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trần K phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Trần K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2025).
Giao bị cáo Huỳnh Trần K cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Huỳnh Trần K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) cây lưỡi liềm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, dài khoảng 30cm hình vòng cung; 01 (một) cây đèn pin, dài khoảng 32 cm, có chức năng chích điện, đã bị hư hỏng (đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22 tháng 9 năm 2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 - An Giang với Công an tỉnh A).
Trả lại cho bị cáo Huỳnh Trần K số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) theo giấy nộp tiền ngày 12/8/2025 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C1 - Chi nhánh A - Phòng G.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Trần K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 43/2025/HS-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG về sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 43/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Trần K phạm tội sử dựng trái phép vụ khí quân dụng
