Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2025

“Về: Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Ngọc.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Dương Hoài Thảo – Kiểm sát viên khu vực 12 – Đồng Nai.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân khu vực A - Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2025/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025, về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, xã B, tỉnh Phú Thọ.

Số định danh: CCCD: [...].

- Bị đơn: Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1955

Nơi cư trú: Thôn A, xã B, tỉnh Đồng Nai.

Số định danh: 033055003900.

(Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:

Bà và ông Đ tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là UBND xã B, tỉnh Đồng Nai). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, chăm lo gia đình. Khoảng 06 tháng trở lại đây tình cảm vợ chồng không được hạnh phúc, vợ chồng không yêu thương và chăm sóc nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do mỗi người một quan điểm khác nhau. Bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ không có con chung.

Về tài sản, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án ông Lê Xuân Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông với bà L tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, nhằm mục đích nương tựa nhau lúc tuổi già vì trước khi đến với nhau cả ông và bà L đều đã có vợ, chồng và đã ly hôn, các con đều đã trưởng thành có công việc, gia đình riêng. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông, ông đồng ý vì mục đích hai người là tình cảm lúc về già, nên nay bà L thấy không tiếp tục chung sống mà đề nghị được ly hôn thì ông cũng không níu kéo.

Về con chung: Ông và bà L không có con chung.

Về tài sản chung: Ông và bà L không có tài sản chung.

Về nợ: Tại đơn phản tố ngày 25/8/2025 ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho ông số tiền 20.000.000₫ mà ông đã mượn cho bà L trước khi hai người kết hôn. Ngày 05/9/2025, ông Đ nộp đơn rút yêu cầu phản tố đối với bà L, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về nội dung vụ án: Do mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông Đ đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L đối với ông Đ. Bà L và ông Đ không có con chung nên không đề cập; Bà L1 và ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản, nợ chung nên không đề cập; ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L1 trả lại số tiền bà L1 mượn của ông Đ trước khi kết hôn; Tòa án đã thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn; ngày 05/9/2025 ông Đ nộp đơn rút yêu cầu phản tố đối với bà L1 nên đề nghị Tòa án đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn.

Về án phí: Nguyên đơn trên 60 tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí, nhưng không làm đơn đề nghị miễn án phí nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn trên 60 tuổi có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, đồng thời đã rút đơn phản tố đối với nguyên đơn nên được miễn nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Lê Xuân Đ tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 01/3/2023, nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Đ là hợp pháp.

Theo bà L và ông Đ trình bày mục đích hai người kết hôn là để nương tựa nhau lúc tuổi già, nhưng sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không còn tiếng nói chung, không còn tình cảm vợ chồng đối với nhau dẫn đến ly thân; quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải hai bên, bà L cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông Đ; ông Đ cũng đồng ý ly hôn với bà L; ông Đ cũng đồng ý cam kết của bà L sẽ trả cho ông số tiền 20.000.000đ vào ngày 30/12/2025, nhưng ông Đ đưa ra điều kiện khi nào bà L trả cho ông số tiền 20.000.000₫ đã cam kết thì ông mới ký thỏa thuận ly hôn với bà L, nên Tòa án không có căn cứ ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn và hòa giải thành giữa hai bên.

Từ những căn cứ trên thấy rằng hôn nhân giữa bà L và ông Đ không thật sự hạnh phúc, nguyên nhân do không có sự đồng cảm với nhau trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống, nên cần giải quyết cho bà L được ly hôn với ông Đ là phù hợp.

Về con chung: Bà L và ông Đ không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông Đ không yêu cầu nên không xem xét.

Về nợ riêng của bà L đối với ông Đ: Tại đơn phản tố ngày 25/8/2025 bị đơn ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc nguyên đơn bà L phải trả cho ông Đ số tiền 20.000.000₫ mà bà L đã mượn của ông Đ trước khi hai người kết hôn. Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai đã thụ lý yêu cầu phản tố của ông Đ đối với bà L; ngày 05/9/2025 ông Đ nộp đơn rút yêu cầu phản tố đối với bà L vì ngày 05/9/2025 bà L đã viết giấy cam kết đến ngày 30/12/2025 sẽ trả cho ông Đ số tiền 20.000.000đ nói trên.

Xét việc rút đơn phản tố ngày 25/8/2025 của bị đơn ông Đ đối với nguyên đơn bà L là tự nguyện, nên cần đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn.

[3] Về án phí: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí, nhưng không làm đơn đề nghị miễn án phí nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ. Bị đơn thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, đồng thời đã rút đơn phản tố đối với nguyên đơn nên được miễn nộp án phí theo quy định.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Điều 147; các điều 161, 218 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Lê Xuân Đ; Xử cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Xuân Đ.

2. Về nợ riêng: Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Xuân Đ đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về yêu cầu bà L trả khoản tiền 20.000.000₫.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0029312 ngày 22/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND Khu vực 12-ĐN; (Đã ký)
  • - THADS Đồng Nai;
  • - UBND xã Bom Bo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

NGUYỄN VĂN HUỆ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger