TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/DS-PT Ngày: 27-9-2025 V/v: “Kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Quân
Các Thẩm phán: Ông Phạm Ngọc Toàn và bà Nguyễn Thị Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đông – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Mạc Minh Song - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 36/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025 về Kiện đòi tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số: 12/QĐ-SCBSBA ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 97/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 123/2025/QĐ-PT ngày 19/9/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Số A M, tổ B, phố Â, phường T, thành phố V (Nay là phường T), tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn:
Chị Nguyễn Phương M, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Tổ F, phường M, khu vực 1 tỉnh Lào cai (Nay là tổ dân phố M, phường Y, tỉnh Lào Cai). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 11/02/2025, bản tự khai bổ sung ngày 09/5/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Do gia đình chị và gia đình chị Nguyễn Phương M có mối quan hệ thân thiết, hai gia đình chung sống với nhau dưới một mái nhà, vào ngày 29/09/2021, chị M có mượn chị số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng chẵn). Chị M nói với chị mượn ít hôm để giải quyết việc gia đình gấp. Vì chị đã sẵn lòng tin, khi chị M mượn tiền gấp để giải quyết việc gia đình chị cũng không đắn đo, suy nghĩ nhiều, liền chuyển khoản ngay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) vào 02 số tài khoản của chị Nguyễn Phương M. Cụ thể, số tài khoản 37110000368517, mở tại Ngân hàng B, chủ tài khoản Nguyễn Phương M, chị chuyển 01 lệnh với số tiền 300.000.000 đồng; số tài khoản 666819908888, mở tại Ngân hàng M1, chủ tài khoản Nguyễn Phương M, chị chuyển 03 lệnh với tổng số tiền 700.000.000 đồng. (Cụ thể với các số bút toán giao dịch từ tài khoản của chị tại ngân hàng T1: FT21272910455411 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272034756019 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272708147037 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272195939014 chuyển đến tài khoản chị M 100.000.000 đồng). Việc cho vay không lập thành văn bản mà chỉ là thỏa thuận miệng giữa chị và chị M.
Quá trình chung sống tại tầng 4 căn nhà PG101 Vincom Y, chị thường xuyên đòi tiền chị M nhưng chị M nói chuyện gia đình vẫn chưa giải quyết xong nên chị M chưa trả tiền và hứa hẹn sẽ trả lãi cho chị xứng đáng. Tuy nhiên sau đó hai gia đình chị và chị M xảy ra mâu thuẫn, chị M cũng chặn mọi phương thức liên lạc của chị và bộc lộ tính cách hung hăng, côn đồ. Cùng lúc đó chị M mang thai, thách chị dám tiếp cận nên chị rất sợ chị M ăn vạ, vu khống nên chị không dám gặp trực tiếp chị M đề đòi lại số tiền 1.000.000.000 đồng trên.
Chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Nguyễn Phương M trả lại chị số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng); buộc chị Nguyễn Phương M phải trả cho chị tiền lãi do việc chậm trả số tiền 1.000.000.000 đồng từ tháng 9/2021 đến tháng 2/2025 với mức lãi suất chậm trả là 10%/năm tương ứng với số tiền lãi 333.333.000 đồng. Tại đơn đề nghị về việc thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, chị H đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị M phải trả tiền lãi do việc chậm trả số tiền 1.000.000.000 đồng cho chị tính từ ngày 11/02/2025 (ngày nộp đơn khởi kiện) đến ngày Tòa án xét xử.
Tại bản tự khai bổ sung ngày 19/5/2025, chị Nguyễn Thị Thanh H xác định: Ngày 29/9/2021 chị Nguyễn Phương M có mượn chị số tiền 1.000.000.000, đồng (Một tỷ đồng); việc vay mượn chỉ thỏa thuận bằng lời nói và qua tài khoản ngân hàng, thực tế chị đã giao tiền với mục đích là cho chị M vay, nên chị đề nghị Tòa án xem xét:
1. Về yêu cầu khởi kiện buộc Nguyễn Phương M trả lại số tiền Một tỷ đồng đã vay. Đồng thời xác định thêm quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Yêu cầu trả lại tài sản do chiếm giữ không có căn cứ pháp luật”.
2. Về yêu cầu khởi kiện về việc buộc chị Nguyễn Phương M phải trả lãi do chậm trả tiền tính từ ngày nộp đơn khởi kiện 11/2/2025 đến ngày Tòa án xét xử, lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Trường hợp không đủ căn cứ pháp lý để xác định rõ quan hệ vay tiền thì áp dụng khoản tương đương “lợi tức” do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
3. Không đồng ý việc Nguyễn Phương M tiếp tục chiếm giữ số tiền số tiền này mà không chứng minh được căn cứ hợp pháp.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn – chị Nguyễn Phương M trình bày:
Do có mối quan hệ bạn bè từ trước nên vợ chồng chị và vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh H cùng hợp tác kinh doanh chung. Cụ thể vào khoảng tháng 3/2021 các chị cùng thuê mặt bằng là căn nhà PG1-01 Vincom Y thuộc tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái do bà Nguyễn Thu T là chủ sở hữu để mở quán bán café cốt dừa, giá thuê 20.000.000 đồng/tháng. Ngày 07/4/2021 quán bắt đầu đi vào hoạt động, mỗi bên gia đình góp vốn 300.000.000 đồng để mua tài sản kinh doanh chung. Về lợi nhuận thông nhất phần tiền thu được sau khi trừ tất cả các chi phí phục vụ kinh doanh sẽ được chia đôi.
Đến tháng 9/2021 bà T là chủ căn hộ có ý định bán nhà nên hai gia đình đã bàn bạc và thống nhất sẽ mua lại căn nhà nêu trên để tiếp tục kinh doanh lâu dài và bà T đồng ý bán. Sau khi lo đủ số tiền mua nhà, ngày 17/9/2021 tại Văn phòng C, vợ chồng chị và bà Nguyễn Thu T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên. Để thuận lợi cho việc xử lý tài sản trong kinh doanh, nên hai gia đình thống nhất để gia đình chị đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 20/9/2021 Chị nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Y chỉnh lý mặt sau Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng chị là chủ sở hữu.
Khoản tiền 1.000.000.000 đồng mà chị H nhắc đến trong đơn khởi kiện là tiền mà vợ chồng chị H đã vay chị trước đó để lo trả tiền mua nhà, sau nhiều lần chị hỏi thì vợ chồng chị H mới trả cho chị. Chị khẳng định tại thời điểm hiện tại thì chị không nợ bất cứ khoản tiền nào từ vợ chồng chị H. Chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H. Ngoài mà chuyển tiền mà chị H trình bày thì còn nhiều mã chuyển tiền khác giữa chị và chị H để phục vụ việc kinh doanh và mua nhà, đều trong thời điểm hai bên còn hợp tác làm ăn chung. Tất cả đều đã được giải quyết bằng bản án số 12/2022/TCDS-ST ngày 26/10/2022 của TAND thành phố Y và Công văn số: 1092/VPCQCSĐT-Đ3 ngày 18/8/2022 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị H không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới và xác nhận không còn chứng cứ nào khác, xác định số tiền lãi chị yêu cầu Tòa án buộc chị M phải thanh toán cho chị từ ngày 11/02/2025 cho đến ngày Tòa án xét xử (ngày 16/7/2025) là 83.500.000 đồng. Ngoài ra nguyên đơn có ý kiến, do bị đơn đã thừa nhận nhận tiền, giải thích rằng nhận tiền trả nợ nhưng không chứng minh được. Do đó việc bị đơn chiếm hữu số tiền 1.000.000.000 đồng đó sẽ trở thành chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Căn cứ tại Điều 579 Bộ luật Dân sự, đây là hành vi chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và phải hoàn trả cho người đã giao tài sản.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 16-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai đã quyết định:
Căn cứ các Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 96, Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các Điều 117, Điều 119 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh H về việc yêu cầu chị Nguyễn Phương M phải trả tổng số tiền 1.083.500.000 đồng (Một tỷ không trăm tám mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 16/7/2025 là 83.500.000 đồng.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 44.505.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 21.000.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số: AA/2024/0001571 ngày 14-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Y (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - Lào Cai). Chị H còn phải nộp 23.505.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30-7-2025 chị Nguyễn Thị Thanh H là nguyên đơn có đơn kháng cáo không nhất trí toàn bộ bản án số: 01/2025/DS-ST ngày 16-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai. Với các nội dung:
Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận đầy đủ, chính xác yêu cầu khởi kiện, các yêu cầu bổ sung và lập luận của nguyên đơn; Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu xác định thêm quan hệ pháp luật “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật” là nằm ngoài phạm vi khởi kiện mà không có căn cứ pháp lý nào;
Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát đã đơn phương tự thay đổi quan hệ pháp luật không đúng quan hệ căn cứ pháp lý, tự xác định thành Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là hoàn toàn trái pháp luật, làm sai lệch bản chất vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả giải quyết vụ án;
Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng việc đánh giá chứng cứ, chấp nhận lời khai không có căn cứ, chứng cứ không hợp pháp của bị đơn, không áp dụng nghĩa vụ chứng minh; không xem xét hậu quả pháp lý của việc chuyển giao tài sản theo đúng bản chất vụ án kiện đòi tài sản; Tòa án cấp sơ thẩm đã sai sót trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công khai chứng cứ, không thông báo, không cho nguyên đơn tiếp cận tài liệu, chứng cứ bổ sung của bị đơn trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; Tòa án cấp sơ thẩm không ghi chép nguyên văn phần trình bày của nguyên đơn tại biên bản phiên tòa; Tòa án xác định sai bản chất pháp lý của vụ án, nhầm lẫn giữa Đòi tài sản và Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án theo thướng bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo ngày 30/7/2025. Đồng thời bổ sung nội dung kháng cáo đề nghị hủy Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 12/QĐ-SCBSBA ngày 04-8-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai; đề nghị Hội đồng xét xử nghiên cứu, tham khảo, đối chiếu Bản án phúc thẩm số: 503/2025/DS-PT ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao có nội dung tương tự như vụ án nguyên đơn đang khởi kiện để buộc bị đơn chị Nguyễn Phương M phải trả lại số tiền 01 tỷ đồng cho nguyên đơn.
Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm. Thủ tục phiên tòa đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Diều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai. Người kháng cáo chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Khi thụ lý đơn khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là kiện đòi tài sản (kiện đòi tiền). Xét thấy, trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn đều xác định cho bị đơn vay tiền thể hiện bằng lời nói và đã chuyển tiền qua giao dịch chuyển khoản tại ngân hàng nên khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vay và tiền lãi theo quy định như vậy cần xác định đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên trong bản khai bổ sung, nguyên đơn đề nghị trong trường hợp không có căn cứ pháp lý để xác định có việc vay tiền thì đề nghị xác định thêm là quan hệ đòi lại tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp khi giải quyết là vụ án tranh chấp kiện đòi tài sản có căn cứ, đồng thời đã xác định đầy đủ, đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định; đúng, đủ về hình thức nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H cho rằng đã cho bị đơn chị Nguyễn phương M vay số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng) vào ngày 29/9/2022, hình thức hợp đồng là bằng lời nói và nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn số tiền 01 (Một) tỷ đồng vào 02 số tài khoản của chị Nguyễn Phương M. Cụ thể, số tài khoản 37110000368517, mở tại Ngân hàng B, chủ tài khoản Nguyễn Phương M, chị chuyển 01 lệnh với số tiền 300.000.000 đồng; số tài khoản 666819908888, mở tại Ngân hàng M1, chủ tài khoản Nguyễn Phương M, chị chuyển 03 lệnh với tổng số tiền 700.000.000 đồng. (Cụ thể với các số bút toán giao dịch từ tài khoản của chị tại ngân hàng T1: FT21272910455411 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272034756019 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272708147037 chuyển đến tài khoản chị M 300.000.000 đồng; FT21272195939014 chuyển đến tài khoản chị M 100.000.000 đồng). Nguyên đơn đã đòi nhiều lần nhưng bị đơn không trả.
Bị đơn xác định không vay nguyên đơn số tiền trên, khoản tiền 1.000.000.000 đồng mà chị H nhắc đến trong đơn khởi kiện là tiền mà vợ chồng chị H đã vay chị trước đó để lo trả tiền mua chung nhà, sau nhiều lần chị hỏi thì vợ chồng chị H mới trả cho chị. Bị đơn không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài mã chuyển tiền mà chị H trình bày thì còn nhiều mã chuyển tiền khác giữa chị và chị H để phục vụ việc kinh doanh và mua nhà, đều trong thời điểm hai bên còn hợp tác làm ăn chung. Tất cả đều đã được giải quyết bằng bản án số 12/2022/TCDS-ST ngày 26/10/2022 của TAND thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lào Cai).
[3] Xét việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Do nguyên đơn khởi kiện cho rằng bị đơn vay tiền của nguyên đơn, nhưng nguyên đơn không có chứng cứ nào thể hiện việc hai bên có giao kết hợp đồng vay tiền nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật.
Việc nguyên đơn cho rằng bị đơn chiếm giữ tài sản của nguyên đơn không có căn cứ pháp luật nhưng không có chứng cứ chứng minh cho việc chiếm hữu của bị đơn là không có căn cứ pháp luật. Bên cạnh đó bị đơn đã trình bày trong khoảng thời gian từ tháng 3/2021 đến tháng 5/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ hợp tác kinh doanh và góp vốn mua chung nhà nên có việc nguyên đơn nhiều lần chuyển tiền cho bị đơn và được giải quyết bằng bản án số 12/2022/TCDS-ST ngày 26/10/2022 của TAND thành phố Y, tỉnh Yên Bái (Đã có hiệu lực pháp luật)
[4] Xét kháng cáo của bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh H.
[4.1] Đối với nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm không ghi nhận đầy đủ, chính xác yêu cầu khởi kiện, các yêu cầu bổ sung và lập luận của nguyên đơn; Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu xác định thêm quan hệ pháp luật “chiếm hữu không có căn cứ pháp luật” là nằm ngoài phạm vi khởi kiện mà không có căn cứ pháp lý nào. Trong vụ án này, như đã phân tích tại mục [1] thì nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn phải trả tiền vay gồm cả gốc và lãi, ngoài ra nguyên đơn đề nghị xác định thêm quan hệ pháp luật tranh chấp vẫn chỉ là đòi số tiền đã xác định đã cho bị đơn vay nói trên. Trong phần nhận định của bản án sơ thẩm cũng đã nêu rõ về ý kiến này của nguyên đơn. Tuy nhiên cần xác định rõ việc nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn về khoản tiền 1 tỷ đồng và lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ mà ban đầu nguyên đơn cho rằng bị đơn vay, nên việc nguyên đơn đề nghị bổ sung một quan hệ pháp luật khác trên chính số tiền đó là đã mâu thuân với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét đánh giá, giải quyết yêu cầu khởi kiện đòi tiền vay của nguyên đơn là đúng pháp luật. Do đó nội dung kháng cáo này của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.
[4.2] Đối với nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát đã đơn phương tự thay đổi quan hệ pháp luật không đúng quan hệ căn cứ pháp lý, tự xác định thành Tranh chấp hợp đồng vay tài sản là hoàn toàn trái pháp luật, làm sai lệch bản chất vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đết kết quả giải quyết vụ án: Nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm đã có quyết định sửa chữa bổ sung, bản án số 12/2025/QĐ-SCBSBA ngày 04/8/2025. Việc sửa chữa, bổ sung nội dung nhận định về quan hệ pháp luật tranh chấp cho đúng với Thông báo thụ lý vụ án và ý kiến của bị đơn nên được xác định là sai sót do lỗi soát xét văn bản. Do đó nội dung kháng cáo này của nguyên đơn cũng không được chấp nhận.
[4.3] Đối với nội dung kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng việc đánh giá chứng cứ, chấp nhận lời khai không có căn cứ, chứng cứ không hợp pháp của bị đơn, không áp dụng nghĩa vụ chứng minh; không xem xét hậu quả pháp lý của việc chuyển giao tài sản theo đúng bản chất vụ án kiện đòi tài sản; Tòa án cấp sơ thẩm đã sai sót trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công khai chứng cứ, không thông báo, không cho tôi tiếp cận tài liệu, chứng cứ bổ sung của bị đơn trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; Tòa án cấp sơ thẩm không ghi chép nguyên văn phần trình bày của nguyên đơn tại biên bản phiên tòa; Tòa án xác định sai bản chất pháp lý của vụ án nhầm lẫn giữa Đòi tài sản và Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn là người khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả tiền vay nhưng nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh về việc bị đơn vay tiền. Bị đơn có trình bày số tiền bị đơn nhận được từ nguyên đơn là khoản tiền nguyên đơn trả nợ cho bị đơn và đã chứng minh bằng bản án số 12/2022/TCDS-ST ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Y, tỉnh Yên Bái (cũ) đã có hiệu lực pháp luật. Do đó nội dung kháng cáo này của nguyên đơn cũng không có căn cứ để chấp nhận.
[4.4] Việc nguyên đơn chị H đề nghị tham khảo đối chiếu với Bản án phúc thẩm số: 503/2025/DS-PT ngày 04/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã được công bố trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao. Hội đồng xét xử thấy rằng, bản án này chưa được quyết định thành án lệ nên chỉ mang tính tham khảo. Mặt khác, nội dung vụ án không hoàn toàn giống với vụ án mà nguyên đơn đang khởi kiện. Cụ thể là nội dung bị đơn trong bản án số 503 cho rằng số tiền nhận được là tiền công, tiền cây giống mà nguyên đơn trả nên được nhận định là bị đơn có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai.
[6] Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Lào Cai.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 16/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lào Cai.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo chị Nguyễn Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng, được trừ váo số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đông đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000606 ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Quân |
Bản án số 43/2025/DS-PT ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI về kiện đòi tài sản
- Số bản án: 43/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh H - Nguyễn Phương Mai - Kiện đòi tài sản
