TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/10/2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Trĩnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thế và bà Vũ Thị Tịnh
Thư ký phiên toà: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa:
Ông Dương Sơn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân dân khu vực 3 - Hưng Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2025/TLST-HNGĐ ngày 2 tháng 02 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Lan A, sinh năm 1988 (vắng mặt);
HKTT: Thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn P, xã H, tỉnh Hưng Yên.
Trú tại : Thôn D, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn D, xã L, tỉnh Hưng Yên;
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1987 (vắng mặt);
HKTT: Thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nay là thôn P, xã H, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Phạm Thị Lan A trình bày: Chị kết hôn với anh Bùi Văn T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là xã H) ngày 18/11/2009.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với gia đình anh T tại thôn P, xã S, huyện K tỉnh Hưng Yên (nay là thôn P, xã H, tỉnh Hưng Yên); vợ chồng hạnh phúc đến năm khoảng hai năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, lối sống. Do
cuộc sống quá căng thẳng, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau và không muốn đoàn tụ. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm nên chị đề nghị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Gia B, sinh ngày 16/12/2010 và cháu Bùi Đức V, sinh ngày 19/9/2014. Hiện nay hai cháu đang sinh sống cùng ông, bà nội tại thôn P, xã S, huyện K tỉnh Hưng Yên (nay là thôn P, xã H, tỉnh Hưng Yên). Quan điểm của chị đề nghị Toà án giao hai cháu cho chị được trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình giải quyết, cả hai cháu B và V đều có nguyện vọng được ở cùng chị Lan A.
Về tài sản chung; công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp: Chị Lan A tự nguyện không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Kết quả xác minh tại UBND xã S (nay là xã H) xác định: Chị Lan A và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã ngày18/11/2009. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn P, xã S. Quá trình chung sống, địa phương không nắm được giữa anh T và chị Lan A có xảy ra mâu thuẫn không. Về tài sản chung; công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp của vợ chồng anh, chị địa phương không nắm rõ. Về con chung đúng như chị Lan A trình bày. Nay chị Lan A xin được ly hôn với anh T, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh H cung cấp: Anh Bùi Văn T, sinh ngày 24/10/1987, tại Hưng Yên, Số C, hộ khẩu thường trú tại: thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên, đã sử dụng hộ chiếu số C8363296 để xuất cảnh ngày 17/02/2025 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Bùi Văn T, đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi cư trú. Tại thời điểm trên anh T không có nhà, cha đẻ anh T là ông Bùi Văn V1 và bà Vũ Thị B1 từ chối nhận thay; từ chối trình bày quan điểm và từ chối cung cấp địa chỉ của anh Bùi Văn T. Vì vậy vụ án được giải quyết theo quy định tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn
không tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 16/12/2010 và cháu Bùi Đức V, sinh ngày 19/9/2014 cho chị Phạm Thị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc đóng góp nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung; công nợ chung; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của hai vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Lan A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị Lan A khởi kiện anh Bùi Văn T xin ly hôn và giải quyết các vấn đề liên quan, anh Bùi Văn T có hộ khẩu thường trú và cư trú cuối cùng tại thôn P, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn P, xã H, tỉnh Hưng Yên). Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Nghị quyết 01/2025/NQ – HĐTP, ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập TAND tỉnh, TAND khu vực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Vì vậy, căn cứ điều 227; điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Lan A và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đã được UBND xã S đăng ký kết hôn ngày 18/11/2009, do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Quá trình giải quyết, chị Lan A khẳng định, quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân từ năm 2023 cho đến nay, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau, chị cương quyết xin được ly hôn, anh T đã được triệu tập nhiều lần nhưng bố mẹ anh T là ông Bùi Văn V1 và bà Vũ Thị B1 từ chối nhận văn bản tố tụng và cung cấp địa chỉ của anh T, bản thân anh T không đến, không tham gia hòa giải và không thể hiện thiện trí vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh, chị đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích
hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Lan A được ly hôn với anh T.
[3]. Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Bùi Gia B, sinh ngày 16/12/2010 và cháu Bùi Đức V, sinh ngày 19/9/2014. Hiện nay hai cháu đều đang ở với ông Bùi Văn V1 và bà Vũ Thị Bích . Quá trình giải quyết, chị Lan A có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, cả hai cháu đều có nguyện vọng được sinh sống cùng chị Lan A. Nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị Lan A là hoàn toàn chính đáng. Trong quá trình giải quyết, anh T không tham gia tố tụng, chưa có quan điểm trình bày nhưng qua xác minh, cũng như lời khai của chị Lan A, hiện cả hai cháu đang sinh sống cùng ông V1, bà B1 là ông, bà nội của các cháu, nhưng trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu không phải của ông V1, bà B1. Để đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng con chung và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp các cháu, cũng như sự phát triển ổn định về tâm lý, tình cảm của các cháu sau ly hôn cần giao cả hai cháu cho chị Lan A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế cũng như phù hợp với nguyện vọng của chị Lan A và của các cháu. Do chị Lan A không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
[4]. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và đất canh tác nông nghiệp của hai vợ chồng: Do chị Lan A không yêu cầu, anh T vắng mặt chưa có ý kiến và yêu cầu phân chia nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào anh T, chị Lan A có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Chị Lan A phải chịu án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử;
- Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Lan A được ly hôn với anh Bùi Văn T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Gia B, sinh ngày 16/12/2010 và cháu Bùi Đức V, sinh ngày 19/9/2014 cho chị Phạm Thị Lan A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Việc đóng góp nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn anh T có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung; công nợ chung; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Khi nào chị Phạm Thị Lan A, anh Bùi Văn T có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Lan A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0001697, ngày 26/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Động (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên), chị Lan A đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Lan A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày; anh Bùi Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
Bản án số 42/2025/HNGĐ-ST ngày 16/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 40 ngày 08/12/2025 về Xin ly hôn giữa chị A và anh T
