|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 12-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Ngọc Ứng;
- Ông Nguyễn Quốc Sử.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Bùi Văn N, sinh ngày 07/01/1988 tại Đồng Tháp; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Bùi Văn L, sinh ngày 01/01/1945 và bà Võ Thị N1, sinh năm 1946 (chết); anh (chị) em ruột: Có 02 người, bị cáo là con út trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 29/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015 (Đặc xá) và chấp hành xong án phí ngày 24/10/2013, đã xóa án tích. Tạm giữ: Ngày 22/6/2025; tạm giam: Ngày 28/6/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
- Ngô Văn T, sinh ngày 19/01/1982 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm L, phường L, tỉnh An Giang. - Ngô Văn N2, sinh ngày 20/10/1966 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm T, phường T, tỉnh Đồng Tháp. - Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/01/1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm S, phường T, tỉnh Đồng Tháp. - Ca Phan Minh D, sinh ngày 08/02/1985 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Hồ Thanh T1, sinh ngày 19/9/1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Lê Vĩnh K, sinh ngày 03/12/2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Tống N3, sinh ngày 03/6/1956 (có mặt). Nơi cư trú: 87 L, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
- Lê Văn L1, sinh ngày 11/11/2007 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Châu Văn B, sinh năm 2004 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Đoàn Thị T2, sinh ngày 20/12/1992 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Thiều Thị D1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
- Bùi Văn L, sinh năm 1945 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. - Phan Thị Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp A, xã T, Thành phố Cần Thơ. - Nguyễn Kim H1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm T, phường T, tỉnh Đồng Tháp. - Cao Mỹ T3, sinh năm 1975 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Khóm T, phường T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/6/2025 Bùi Văn N đi xe đò đến ấp C, xã T, tỉnh Đồng Tháp, rồi đi bộ vào hướng khu vực đường nội đồng để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, N thấy có một xe mô tô, loại xe Wave, biển số: 67F8-2572 của anh Lê Vĩnh K đang đậu ở đường nội đồng, trên xe có sẵn chìa khóa nên N lấy trộm rồi chạy theo hướng ra cầu K. Lúc này K nhìn thấy N lấy trộm xe chạy đi nên gọi điện thoại cho anh Lê Văn L1 biết về việc bị mất trộm xe nên anh L1 và anh B chạy xe đến cầu K chốt chặn, lúc này N điều khiển xe tăng ga bỏ chạy nên anh L1 và anh B điều khiển xe chạy đuổi theo về hướng phường H, khi chạy đến khu vực ấp T, xã T thì thấy có Tổ công tác của lực lượng Cảnh sát giao thông đang tuần tra, kiểm soát nên truy hô rượt đuổi theo bắt giữ được N và mời về trụ sở Công an làm việc. Tại đây N đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
Ngoài lần bị bắt phạm tội quả tang, N còn thực hiện nhiều lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ 1: Vào khoảng đầu tháng 3/2025, không nhớ rõ ngày, N đi bộ lang thang một mình để tìm kiếm tài sản lấy trộm, khi đến khu vực B thuộc phường H, tỉnh Đồng Tháp, N không nhớ địa điểm, thấy có 01 chiếc xe đạp màu sơn xám trắng, khung xe có dòng chữ Martin, không có người trông giữ nên N lấy trộm dùng để làm phương tiện sử dụng.
Lần thứ 2: Ngày 24/3/2025 N chạy chiếc xe đạp đã trộm được trên tuyến đường ĐT841, khi đến khu vực khóm T, phường T, tỉnh Đồng Tháp thấy có một chiếc xe mô tô biển số: 67H1-077.21, nhãn hiệu Wave Alpha của anh Ngô Văn T đang đậu cập lề đường, trên xe có sẵn chìa khóa nên N dừng xe đạp lại và đi bộ đến lấy trộm xe mô tô, N bỏ lại chiếc xe đạp rồi điều khiển xe mô tô trộm được chạy đến tỉnh Hậu Giang, nay là thành phố Cần Thơ để bán nhưng do xe không có giấy tờ nên không bán được, sau đó N điều khiển xe chạy về khu vực phường H, N không nhớ địa chỉ, bán xe cho một người thanh niên lạ mặt, nghe nói tên T4 nhưng N không rõ họ và địa chỉ, bán được số tiền 1.200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 3: Ngày 14/4/2025 N đi xe đò từ xã T đến phường T, khi đến gần cầu T, N quan sát thấy có một chiếc mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Wave S của anh Ngô Văn N2 đang đậu trên đường lộ làng, thấy không có người trông giữ nên N kêu anh xe đò dừng lại cho N xuống xe rồi đi bộ đến xe mô tô, quan sát thấy trên xe có sẵn chìa khóa nên lấy trộm rồi điều khiển xe chạy về cầu T, xã T, sau đó N kiểm tra bên trong cốp xe thấy có một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và tiền Việt Nam 1.000.000 đồng nên N lấy tiền bỏ vào túi quần để tiêu xài rồi tiếp tục điều khiển xe chạy chạy đến xã M, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là xã T, thành phố Cần Thơ) thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra do vi phạm nên lập biên bản tạm giữ xe và bàn giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý theo thẩm quyền.
Lần thứ 4: Vào khoảng 15 giờ ngày 30/4/2025, N đi xe đò đến quán C1 của chị Cao Mỹ T3, thuộc khóm T, phường T, tỉnh Đồng Tháp để uống cà phê. Tại đây N thấy anh Nguyễn Văn H cũng đang ngồi uống nước trong quán, lúc này N nằm võng uống nước, cách chỗ anh H khoảng 03 mét. Nguyên tiếp cận nói chuyện qua lại với anh H và biết được xe mô tô biển số: 66H1- 090.31, loại xe Wave đang đậu phía trước quán là của anh H nên nảy sinh ý định trộm cắp xe. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi N thấy anh H đi vào bên trong nhà vệ sinh của quán và lúc này chị T3 chủ quán cũng đi vào bên trong nên N đi lại chỗ xe anh H đậu thì thấy có chìa khóa sẵn trên xe, N lấy trộm rồi điều khiển xe chạy đến xã T, thành phố Cần Thơ thuê phòng trọ ngũ qua đêm, đến sáng ngày hôm sau 01/5/2025 N đến quán cà phê Cây M của bà Phan Thị Đ bán xe cho một người thanh niên lạ mặt tên S, không rõ địa chỉ, được số tiền 5.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 5: Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 25/5/2025, N đi bộ đến ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp để tìm kiếm tài sản lấy trộm, khi đi đến nhà anh C Phan Minh D thì phát hiện thấy có chiếc xe mô tô biển số: 66G1-399.54, nhãn hiệu Honda, loại xe Future của anh D đang đậu trong sân nhà và thấy có chìa khóa xe để trên bàn gần chỗ xe, lúc này N quan sát thấy trong nhà không có người nên lấy trộm, bên trong cốp xe có 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Ca Phan Minh D. Sau khi trộm được xe, N đem bán cho một người lạ mặt ở tiệm sửa xe xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, không rõ địa chỉ, được số tiền 3.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ 6: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/6/2025, N chạy xe đạp (xe của N) để tìm kiếm tài sản lấy trộm, khi đến Cửa hàng gạch trang trí Thành Tín 3, thuộc ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp thì thấy có 01 xe mô tô biển số: 66K1-022.95, nhãn hiệu Honda, loại xe Future X FI của anh Hồ Thanh T1 đang đậu trước cửa hàng, chìa khóa có sẵn trên xe nên N dừng xe đạp lại rồi đi bộ đến tiếp cận lấy trộm xe mô tô, trong cốp xe có 01 giấy Căn cước công dân và 01 giấy đăng ký xe mang tên Hồ Thanh T1. Sau khi lấy trộm được xe mô tô, N bỏ lại xe đạp rồi điều khiển xe chạy đến xã T, thành phố Cần Thơ bán xe cho một người thanh niên, không biết tên và địa chỉ được số tiền 14.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu INCONMISS, màu đen-trắng, biển số: 67F8-2572, số khung: 0011600, số máy: 0236337, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý trả lại cho bị hại Lê Vĩnh K.
- 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4419318, số khung RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý trả lại cho bị hại Ngô Văn N2.
- 01 đĩa DVD có chứa 01 đoạn Video, được trích xuất từ Camera của Hồ Thanh T1 ghi lại hình ảnh vụ mất trộm xe mô tô, đã lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 thẻ BHYT mang tên Ca Phan Minh D, đã xử lý trả lại cho bị hại D.
- 01 CCCD mang tên Hồ Thanh T1, đã xử lý trả lại cho bị hại T1.
- 01 xe đạp, có khung xe màu xám trắng, đầu xe có gắn rỗ xe màu trắng, trên ghi đông xe có chuông màu trắng, đã qua sử dụng, của bị can N.
- 01 xe đạp có khung xe màu xám trắng, trên khung xe có dòng chữ M1, yên xe màu xám có in dòng chữ Panch, có một tay nắm bên phải ghi đông, tay cầm ghi đông bằng cao su màu xanh dương, xe đã qua sử dụng.
- 01 áo khoác màu đen-trắng, có ghi chữ “WORLD CLASS HELMET” ở phía sau, đã qua sử dụng;
- 01 áo sơ mi tay dài, màu xám-xanh, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng;
- Tiền Việt Nam: 123.000 đồng.
* Tại bản kết luận giám định số: 927/KL-KTHS ngày 04 tháng 8 năm 2025 của phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
Tệp dữ liệu Video có tên “6825788241437.mp4” được lưu trong đĩa DVD gửi giám định, không đủ cơ sở để kết luận giám định có bị cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh, do tệp dữ liệu Video có tín hiệu về thời gian và hình ảnh không liên tục.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 175/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh kết luận:
- 01 xe mô tô biển số: 67F8-2572, nhãn hiệu INCONMISS, màu sơn đen-trắng, số má
- 01 xe mô tô biển số: 66G1-399.54, nhãn hiệu Honda, số loại JC 760 FUTURE FI, màu sơn: đen-xám, số máy: JC76E-0167989, số khung: RLHJ7603GZ054717, đã qua sử dụng. Có giá trị 15.933.000 đồng.
- 01 xe mô tô biển số: 66K1-022.95, nhãn hiệu Honda, số loại Future X FI, màu sơn: đen-xám-vàng, số máy: JC45E0193321, số khung: RLHJC350XAY106304, đã qua sử dụng. Có giá trị 19.167.000 đồng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 215/KL-HĐĐGTS, ngày 30 tháng 06 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh kết luận:
- 01 xe mô tô biển số: 66H1-090.31, nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đỏ-đen-bạc, Số khung: RLHHC1204BY641136, Số máy: HC12E-3441266, đã qua sử dụng. Có giá trị 3.067.000 đồng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 323/KL-HĐĐGTS, ngày 18 tháng 07 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh kết luận:
- 01 xe mô tô biển số: 67H1-077.21, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đen bạc, số máy: HC12E3165171, số khung: 120XBY365092, đã qua sử dụng. Có giá trị 3.833.000 đồng.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 483/KL-HĐĐGTS, ngày 24 tháng 07 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh kết luận:
- 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn xanh- đen- bạc, số máy: JC52E4419318, số khung: RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng. Có giá trị 6.333.000 đồng.
- 01 xe đạp có khung xe màu xám trắng, trên khung xe có dòng chữ M1, yên xe màu xám có in dòng chữ Panch, có một tay nắm bên phải ghi đông, tay cầm ghi đông bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng. Có giá trị 217.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Ca Phan Minh D yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 15.933.000 đồng.
- Bị hại Hồ Thanh T1 yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 19.167.000 đồng.
- Bị hại Ngô Văn T yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 3.833.000đồng.
- Bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 3.067.000đồng.
Bị cáo Bùi Văn N đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại
Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị mất, bị hại Ngô Văn N2 không có yêu cầu bị cáo Bùi Văn N bồi thường.
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-KV12, ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Bùi Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn N về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý trả lại cho bị hại Lê Vĩnh K 01 xe mô tô nhãn hiệu INCONMISS, màu đen-trắng, biển số: 67F8-2572, số khung: 0011600, số máy: 0236337, đã qua sử dụng; trả lại cho bị hại Ngô Văn N2 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4419318, số khung RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc xe đạp, có khung xe màu xám trắng, đầu xe có gắn rỗ xe màu trắng, trên ghi đông xe có gắn chuông màu trắng, đã qua sử dụng.
Tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng là của bị cáo Bùi Văn N và tiền Việt Nam 123.000 đồng.
Đối với 01 chiếc xe đạp có khung xe màu xám trắng, trên khung xe có dòng chữ M1, yên xe màu xám có in dòng chữ Panch, có một tay nắm bên phải ghi đông, tay cầm ghi đông bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng do không truy tìm được bị hại. Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 áo khoác màu đen-trắng, có ghi chữ “WORLD CLASS HELMET” ở phía sau và 01 áo sơ mi tay dài màu xám-xanh của bị cáo Bùi Văn N, đã qua sử dụng. Đề nghị trả lại cho bị cáo N quản lý sử dụng.
Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa 01 đoạn video, được trích xuất từ camera của Hồ Thanh T1 ghi lại hình ảnh mất trộm xe mô tô.
- Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Vĩnh K đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu INCONMISS, màu đen-trắng, biển số: 67F8-2572, số khung: 0011600, số máy: 0236337, đã qua sử dụng; bị hại Ngô Văn N2 đã nhận lại 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4419318, số khung RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại Ngô Văn N2, mặc dù bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nhưng xét đây là nguồn thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, buộc bị cáo Bùi Văn N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản cho các bị hại: Ca Phan Minh Duy số tiền 15.933.000 đồng (mười lăm triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng); Hồ Thanh T1 số tiền 19.167.000 đồng (mười chín triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); Ngô Văn T số tiền 3.833.000đồng (ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng); Nguyễn Văn H số tiền 3.067.000đồng (ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai các bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên bỏ nhà đi sống lang thang, nhưng muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2025 đến tháng 6 năm 2025, bị cáo đã 07 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập của bản thân, cụ thể: Vào khoảng đầu tháng 3/2025 (không nhớ rõ ngày) bị cáo lấy trộm 01 chiếc xe đạp màu sơn xám trắng ở khu vực B, thuộc phường H, tỉnh Đồng Tháp (không xác định được bị hại), có giá trị 217.000 đồng; ngày 24/3/2025 lấy trộm của bị hại Ngô Văn T 01 xe mô tô biển: 67H1-077.21, có giá trị 3.833.000 đồng; ngày 14/4/2025 lấy trộm của bị hại Ngô Văn N2 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, có giá trị 6.333.000 đồng và tiền Việt Nam 1.000.000 đồng; ngày 30/4/2025, lấy trộm của bị hại Nguyễn Văn H 01 xe mô tô biển số: 66H1- 090.31, có giá trị 3.067.000 đồng; ngày 25/5/2025, lấy trộm của bị hại Ca Phan Minh D 01 xe mô tô biển số: 66G1-399.54, có giá trị 15.933.000 đồng; ngày 17/6/2025, lấy trộm của bị hại Hồ Thanh T1 01 xe mô tô biển số: 66K1-022.95, có giá trị 19.167.000 đồng; ngày 22/6/2025 lấy trộm của bị hại Lê Vĩnh K 01 xe mô tô biển số: 67F8-2572, có giá trị 3.000.000 đồng. Trong 07 lần bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp, có 06 lần tài sản trộm cắp có giá trị trên 2.000.000 đồng,
Căn cứ Bản kết luận giám định số: 927/KL-KTHS ngày 04 tháng 8 năm 2025 của phòng K1 Công an tỉnh Đ; Bản kết luận định giá tài sản số: 175/KL-HĐĐGTS, ngày 26 tháng 6 năm 2025; Bản kết luận định giá tài sản số: 215/KL-HĐĐGTS, ngày 30 tháng 06 năm 2025; Bản kết luận định giá tài sản số: 323/KL-HĐĐGTS, ngày 18 tháng 07 năm 2025 và Bản kết luận định giá tài sản số: 483/KL-HĐĐGTS, ngày 24 tháng 07 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh thì tổng giá trị tài bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 52.550.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo; lời khai của các bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Bùi Văn N đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) ...;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp tài sản xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù về tội Cướp tài sản. Đáng ra, qua lần bị xử phạt tù nói trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải ra sức lao động đề tìm cho mình một việc làm hợp pháp, có thu nhập chính đáng từ chính công sức lao động của mình, sống hòa nhập cùng cộng đồng, cùng chung tay xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mà Đảng và Nhà nước đang ra sức xây dựng. Nhưng bị cáo không làm được điều đó mà sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội liên tục và thực hiện nhiều lần, lấy khoản thu lợi bất chính từ các lần thực hiện hành vi phạm tội làm nguồn thu nhập chính của bản thân để tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo thuộc diện gia đình có công cách mạng (có cha là người có công cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý trả lại cho bị hại Lê Vĩnh K 01 xe mô tô nhãn hiệu INCONMISS, màu đen-trắng, biển số: 67F8-2572, số khung: 0011600, số máy: 0236337, đã qua sử dụng; trả lại cho bị hại Ngô Văn N2 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4419318, số khung RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 chiếc xe đạp, có khung xe màu xám trắng, đầu xe có gắn rổ xe màu trắng, trên ghi đông xe có gắn chuông màu trắng, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 chiếc xe đạp có khung xe màu xám trắng, trên khung xe có dòng chữ M1, yên xe màu xám có in dòng chữ Panch, có một tay nắm bên phải ghi đông, tay cầm ghi đông bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng do không truy tìm được bị hại nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng là của bị cáo Bùi Văn N và tiền Việt Nam 123.000 đồng (thu giữ của bị cáo, do bị cáo phạm tội mà có), Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, giao cho Phòng thi hành án Dân sự khu vực 12 - tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án đối với Bùi Văn N.
Đối với 01 áo khoác màu đen-trắng, có ghi chữ “WORLD CLASS HELMET” ở phía sau và 01 áo sơ mi tay dài màu xám-xanh, đã qua sử dụng là của bị cáo Bùi Văn N, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp pháp luật.
Đối với 01 đĩa DVD có chứa 01 đoạn video, được trích xuất từ camera của Hồ Thanh T1 ghi lại hình ảnh mất trộm xe mô tô, đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, bị hại Lê Vĩnh K đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu INCONMISS, màu đen-trắng, biển số: 67F8-2572, số khung: 0011600, số máy: 0236337, đã qua sử dụng; bị hại Ngô Văn N2 đã nhận lại 01 xe mô tô biển số: 66G1-106.14, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số máy JC52E4419318, số khung RLHJC5217CY279628, đã qua sử dụng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại N2, mặc dù bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nhưng xét đây là nguồn thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Đối với các bị hại D, T1, T, H, do hiện nay tài sản các bị hại bị mất không thu hồi được nên các bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại giá trị các tài sản trên, cụ thể: Ca Phan Minh D yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 15.933.000 đồng; Hồ Thanh T1 yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 19.167.000 đồng; Ngô Văn T yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 3.833.000đồng; Nguyễn Văn H yêu cầu Bùi Văn N bồi thường giá trị xe mô tô bị mất, số tiền 3.067.000đồng. Bị cáo thống nhất bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại. Xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị hại với bị cáo và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[9] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Bùi Văn N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản cho các bị hại:
- 2.1.Ca Phan Minh D, số tiền 15.933.000 đồng (mười lăm triệu chín trăm ba mươi ba nghìn đồng);
- 2.2. Hồ Thanh T1, số tiền 19.167.000 đồng (mười chín triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng);
- 2.3.Ngô Văn T, số tiền 3.833.000đồng (ba triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng);
- 2.4. Nguyễn Văn H, số tiền 3.067.000đồng (ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
3. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 chiếc xe đạp, có khung xe màu xám trắng, đầu xe có gắn rỗ xe màu trắng, trên ghi đông xe có gắn chuông màu trắng, đã qua sử dụng.
- + 01 chiếc xe đạp có khung xe màu xám trắng, trên khung xe có dòng chữ M1, yên xe màu xám có in dòng chữ Panch, có một tay nắm bên phải ghi đông, tay cầm ghi đông bằng cao su màu xanh dương, đã qua sử dụng.
- Giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 12 - tỉnh Đồng Tháp tiếp tục quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 123.000 đồng (một trăm hai mươi ba nghìn đồng) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án dân sự của Bùi Văn N.
- Trả lại cho bị cáo Bùi Văn N 01 áo khoác màu đen-trắng, có ghi chữ “WORLD CLASS HELMET” ở phía sau và 01 áo sơ mi tay dài màu xám-xanh, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện Phòng thi hành án Dân sự khu vực 12- tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2025)
Buộc bị cáo Bùi Văn N nộp lại số tiền 1.000.000 đồng ( một triệu đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa 01 đoạn video, được trích xuất từ camera của Hồ Thanh T1 ghi lại hình ảnh mất trộm xe mô tô.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 2.100.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2025). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
