Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 25-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Rực
  2. Ông Thạch Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Thừa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25/11/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2025/TLST-HS ngày 29/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 13/11/2025 đối với bị cáo:

Mai Văn P (tên gọi khác: không); Sinh ngày 17 tháng 7 năm: 1994; Tại: Tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ). Nơi thường trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp T, xã Đ, thành phố Cần Thơ). Nơi ở hiện nay: Số B, đường L, khóm C, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (nay là Khu V, phường S, thành phố Cần Thơ); Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn Ú và bà Lê Thị S; có vợ thứ 1 tên Nguyễn Thị Ngọc N (đã ly hôn); vợ thứ 2 tên Nguyễn Thị Thu N1 (đã ly hôn) Bị cáo có 02 người con ((lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2023); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo Mai Văn P bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 10/5/2025 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).

* Người làm chứng: Nguyễn Thị Út M, sinh năm 2003, địa chỉ: Ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 10 tháng 5 năm 2025, Công an thị trấn Đ, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Đ, thành phố Cần Thơ) tiến hành kiểm tra hành chính tại nơi ở của Mai Văn P thuê của bà Lâm Tánh H, sinh năm 1962, nơi thường trú ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ, tại thời điểm kiểm tra còn có Nguyễn Thị Út M, sinh ngày 05/11/2003, nơi thường trú ấp Đ, xã C, thành phố Cần Thơ đang chung sống cùng với Mai Văn P. Qua kiểm tra Công an xã Đ, thành phố Cần Thơ phát hiện và thu giữ tại hiện trường gồm:

  • + Một bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có khoét hai lỗ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng, một lỗ gắn đoạn ông thủy tinh (nỏ) có một đầu hình tròn, bên trong có chất bột màu nâu (nghi là chất ma túy);
  • + Một túi nilon trong được hàn kín một đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng;
  • + Một hột quẹt gas màu đỏ có chữ Phát Tài;
  • + Một hột quẹt gas tự chế màu đen có gắn đầu khò;
  • + Một cây kéo bằng kim loại màu trắng;
  • + Hai điện thoại di động (một điện thoại iphone màu đen, một điện thoại oppo màu đen).

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 07/5/2025, bị cáo có điện thoại cho người thanh niên tên T (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) qua số thuê bao 0792730534 để mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và mua 01 cây nỏ với giá 50.000 đồng và được T đồng ý bán và kêu bị cáo trả tiền bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi chuyển tiền xong T hẹn bị cáo đến trạm biến điện đường V, Phường B, thành phố S (nay là phường P, thành phố Cần Thơ) để nhận 01 gói ma túy, 01 cây nỏ và 02 ống hút. Sau đó bị cáo điều khiển xe về nơi ở thuộc ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ. Khi về đến nhà bị cáo đi ra nhà sau tự làm bình dụng cụ sử dụng ma túy, sau khi làm xong bị cáo đi vào phòng ngủ cắt gói ma túy đổ vào trong nỏ rồi sử dụng, lúc này Nguyễn Thị Út M đi vào thì Mai Văn P rủ Nguyễn Thị Út M cùng sử dụng ma túy, Nguyễn Thị Út M đồng ý, bị cáo và Nguyễn Thị Út M cùng sử dụng ma túy được một lúc thì nghỉ, sau đó, bị cáo cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy vào trong túi quần treo trên xào quần áo. Đến ngày 10/5/2025 Công an xã Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 58/KLMT-KTHS, ngày 17/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh S (cũ), kết luận:

  • - Mẫu chất rắn màu nâu (A1) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1017 gam (không phẩy một không một bảy gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.
  • - Gói nylon trong suốt có một đầu hàn kín, một đầu hở, có bám dính chất màu trắng (A2) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng do mẫu quá ít.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tạm giữ và chuyển Phòng thi hành án dân sự Khu vực 9 quản lý gồm:

  • - Đối tượng hoàn lại sau giám định gồm 0,0643 gam mẫu chất rắn màu nâu (A1) và ống thủy tinh (nỏ); Gói nylon trong suốt (A2) được niêm phong vụ số 58/2025, của Phòng K, Công an tỉnh S (cũ).
  • - Một bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống nhựa màu trắng;
  • - Một hột quẹt gas màu đỏ có chữ Phát Tài;
  • - Một hột quẹt gas tự chế màu đen có gắn đầu khò;
  • - Một cây kéo kim loại màu trắng;
  • - Một điện thoại di động iphone màu đen;
  • - Một điện thoại di dộng oppo màu đen.

* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn P thống nhất với kết luận giám định, bị cáo khai nhận: Do nhu cầu sử dụng ma tuý, nên khoảng 19 giờ, ngày 07/5/2025, bị cáo đã điện thoại cho người thanh niên tên T để mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng và mua 01 cây nỏ với giá 50.000 đồng, sau khi mua được ma túy bị cáo đem về nơi ở thuộc ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ và tự làm bình dụng cụ sử dụng ma túy, sau khi làm xong bị cáo đi vào phòng ngủ cắt gói ma túy đổ vào trong nỏ rồi sử dụng, lúc này Nguyễn Thị Út M đi vào thì bị cáo rủ Nguyễn Thị Út M cùng sử dụng ma túy, Nguyễn Thị Út M đồng ý, bị cáo và Nguyễn Thị Út M cùng sử dụng ma túy được một lúc thì nghỉ, sau đó, bị cáo cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy vào trong túi quần treo trên xào quần áo. Đến ngày 10/5/2025 Công an xã Đ kiểm tra phát hiện số ma túy còn dư lại nên đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ số ma túy và các vật chứng khác.

* Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSKV9 ngày 28/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ đã: Truy tố ra trước Toà án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ để xét xử bị cáo Mai Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố cáo Mai Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổ bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Mai Văn P từ 02 năm đến 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt từ 04 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù.

Đồng thời đề nghị Hội xét xử xử lý vật chứng vụ án, án phí theo quy định.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt người làm chứng Nguyễn Thị Út M tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 293 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo Mai Văn P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vào ngày 07/5/2025, bị cáo đã mua ma túy của người thanh niên tên T với giá 200.000 đồng cùng với 01 cây nỏ với giá 50.000 đồng, sau khi mua được ma túy bị cáo đem về nơi ở thuộc ấp N, xã Đ, thành phố Cần Thơ và tự chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, sau đó cắt gói ma túy đổ vào trong nỏ rồi bị cáo rủ Nguyễn Thị Út M cùng sử dụng, khi bị cáo và Nguyễn Thị Út M sử dụng được một lúc thì nghỉ. Sau đó, bị cáo cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy còn dư ma túy trong dụng cụ sử dụng vào trong túi quần treo trên xào quần áo. Đến ngày 10/5/2025 Công an xã Đ kiểm tra phát hiện số ma túy còn dư lại nên đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, Tại Kết luận giám định số 58/KLMT-KTHS, ngày 17/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh S (cũ), kết luận: Mẫu chất rắn màu nâu (Al) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1017 gam (không phẩy một không một bảy gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine. Như vậy hành vi của bị cáo Mai Văn P đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ truy tố bị cáo Mai Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Mai Văn P là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý về các chất ma túy của Nhà nước đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự thú đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trước đó chưa bị phát hiện có ông ngoại là người có công với cách mạng (ông Lê Văn S1). Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước (điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được áp dụng đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy).

[6] Về xử lý vật chứng:

* Đối với các vật chứng:

  • - Đối tượng hoàn lại sau giám định gồm 0,0643 gam mẫu chất rắn màu nâu (A1) và ống thủy tinh (nỏ); Gói nylon trong suốt (A2) được niêm phong vụ số 58/2025, của Phòng K, Công an tỉnh S (cũ).
  • - Một bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống nhựa màu trắng;
  • - Một hột quẹt gas màu đỏ có chữ Phát Tài;
  • - Một hột quẹt gas tự chế màu đen có gắn đầu khò;
  • - Một cây kéo kim loại màu trắng;

Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

* Đối với các vật chứng:

  • - Một điện thoại di động iphone màu đen (đã qua sử dụng);
  • - Một điện thoại di dộng oppo màu đen (đã qua sử dụng).

Xét thấy, đây là các tài sản hợp pháp của bị cáo Mai Văn P, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cho nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Đối với người thanh niên tên T (chưa rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) bán ma túy cho Mai Văn P, tra cứu thông tin qua thuê bao di động 0792730534, tên Trần Thanh T1, sinh năm 1989, địa chỉ ấp C, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp C, xã N, thành phố Cần Thơ), tuy nhiên ngày 07/5/2025 thuê bao 0792730534 không phát sinh cuộc gọi đi, cuộc gọi đến và qua xác minh không có tên Trần Thanh T1, sinh năm 1989 theo địa chỉ trên, mà chỉ có tên Trần Thanh T1, sinh năm 1990, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau.

[8] Đối với Nguyễn Thị Út M được Mai Văn P cung cấp ma túy, dụng cụ dùng để sử dụng trái chất ma túy, Nguyễn Thị Út M vắng mặt tại địa phương nên chưa xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[9] Đối với Lâm Tánh H cho Mai Văn P thuê nhà để ở, không biết Mai Văn P tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Mai Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; các điểm s, r khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Mai Văn P (điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được áp dụng đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”).
  • * Tuyên bố bị cáo Mai Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt bị cáo Mai Văn P 03 (ba) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 02 (hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt bị cáo Mai Văn P phải chấp hành hình phạt của hai tội là 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/5/2025.
  • * Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + Đối tượng hoàn lại sau giám định 0,0643 gam mẫu chất rắn màu nâu (A1) và ống thủy tinh (nỏ); Gói nylon trong suốt (A2) được niêm phong vụ số 58/2025, của Phòng K, Công an tỉnh S (cũ).
    • + Một bình thủy tinh có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn ống nhựa màu trắng;
    • + Một hột quẹt gas màu đỏ có chữ Phát Tài;
    • + Một hột quẹt gas tự chế màu đen có gắn đầu khò;
    • + Một cây kéo kim loại màu trắng;

    - Trả lại cho bị cáo Mai Văn P:

    • + Một điện thoại di động iphone màu đen (đã qua sử dụng);
    • + Một điện thoại di dộng oppo màu đen (đã qua sử dụng).

    (Các vật chứng và tài sản trên hiện do Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, thành phố Cần Thơ quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2025).

  • * Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Mai Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND thành phố Cần Thơ (P.Giám đốc, Kiểm tra, Thanh tra &THA);
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - Phòng hồ sơ Công an thành phố Cần Thơ;
  • - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Cần Thơ (Phân trại tạm giam huyện Trần Đề);
  • - Phòng THADS khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - Lưu (HSVA & TA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Công Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Mai Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger