TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2025. “V/v xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Trĩnh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thế và bà Vũ Thị Tịnh.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà nguyễn Thị Loan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu Vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63 /2025/TLST - HNGĐ, ngày 19/8/2025về việc “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST - HNGĐ ngày 23/9/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm: 1991.
HKTT: thôn Bùi Xá, xã Nghĩa Dân, tỉnh Hưng Yên
Trú tại: thôn An Xá, xã Nghĩa Dân, tỉnh Hưng Yên.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm: 1989.
3. Người làm chứng:
3.1 Ông Lê Văn M, sinh năm: 1967.
Đều thường trú tại: Thôn B, xã N, tỉnh Hưng Yên.
3.2 Bà Hoàng Thị L1, sinh năm: 1967.
3.3 Ông Hoàng Văn B, sinh năm: 1966.
Đều trú tại: thôn A, xã N, tỉnh Hưng Yên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Chị kết hôn với anh Lê Văn H, sinh năm 1989 ở thôn B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn B, xã N, tỉnh Hưng Yên) trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đã được UBND xã Đ đăng ký kết hôn ngày 13/11/2010.
Sau khi kết hôn, chị chuyển về chung sống cùng anh H tại thôn B, xã Đ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H có tính gia trưởng, thường xuyên áp đặt chị phải nói và làm theo ý anh H, nếu trái ý anh H sẽ đập phá đồ đạc, chửi bới và đánh đập chị, ngoài ra theo chị anh H còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Do vợ chồng không hạnh phúc, không còn tình cảm nên đã sống ly thân từ tháng 2/2025 cho đến nay, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng anh, chị có hai con chung là cháu Lê Gia B1, sinh ngày 30/7/2011 và cháu Lê Bảo V, sinh ngày 02/3/2018. Do điều kiện anh, chị phải đi làm ăn nên các cháu lúc sinh sống ở nhà nội, khi ở nhà ngoại. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, chị nhất trí giao cháu B1 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu đặt ra xem xét giai quyết.
Quá trình giải quyết, cháu V có nguyện vọng chung sống cùng chị L, còn cháu B1 có nguyện vọng chung sống cùng anh H.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03 của vợ chồng: Chị không yêu cầu đặt ra xem xét giải quyết.
Trong quá trình giải quyết chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng ông Lê Văn M trình bày: Ông là bố đẻ của anh Lê Văn H. Năm 2010, gia đình ông tổ chức cho anh H kết hôn cùng chị L, vợ chồng anh H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị L mang con bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng hiện đang sống ly thân.. Anh H đi làm ăn xa nhưng vẫn thường xuyên về thăm ông và liên lạc với ông qua điện thoại. Về con chung đúng như chị L trình bày.Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác của vợ chồng anh H, ông không nắm rõ. Nay chị L xin ly hôn với anh H, ông mong muốn vợ chồng hòa giải đoàn tụ, nếu chị L cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông cam kết nhận thay và thông báo cho anh H biết việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh H và chị L.
Người làm chứng bà Hoàng Thị L1 trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Hoàng Thị L. Việc tìm hiểu, kết hôn đúng như chị L trình bày. Sau khi kết hôn chị L về chung sống cùng anh H tại thôn B, xã Đ (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn hiện đang sống ly thân. Về con chung đúng như chị L trình bày.Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác của vợ chồng chị L, bà không nắm rõ. Nay chị L xin ly hôn, bà không mong muốn mà tuỳ chị L và pháp luật quyết định.
Tòa án cũng đã tiến hành liên lạc với anh H qua tài khoản Zalo “ Huy Lê” do ông Lê Văn M cung cấp, anh H có quan điểm đã biết việc chị L đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên. Anh khẳng định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị L không tin tưởng anh, ghen tuông không có lý do. Chị L xin ly hôn, vì anh còn tình cảm và vì các con còn nhỏ nên anh không nhất trí, nhưng nếu chị L vẫn cương quyết xin ly hôn, anh cũng nhất trí. Anh H khẳng định vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày. Nếu vợ chồng phải ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp chung và về đất nông nghiệp 03 của vợ chồng: Anh không yêu cầu đặt ra xem xét giải quyết.
Kết quả xác minh tại UBND xã N xác định: Chị Hoàng Thị Liên kết H1 cùng anh Lê Văn H trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 13/11/2010 (số 64/2010). Nguyên nhân và diễn biến mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị địa phương không nắm rõ nhưng hiện nay anh, chị đã sống ly thân. Vợ chồng anh, chị có hai con chung là cháu Lê Gia B1, sinh ngày 30/7/2011 và cháuLê Bảo V, sinh ngày 02/3/2018. Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng canh tác của vợ chồng chị L và anh H, địa phương không nắm rõ. Nay chị L xin ly hôn với anh H đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần giao các văn bản tố tụng, đồng thời triệu tập anh H đến để giải quyết nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, chị L có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Giao cháu Lê Gia B1, sinh ngày 30/7/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giao cháu Lê Bảo V, sinh ngày 02/3/2018 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc; Việc đóng góp nuôi con chung không đặt ra giải quyết;Về tài sản chung; công nợ, công sức đóng góp chung và về đất canh tác của hai vợ chồng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị L có đơn khởi kiện anh Lê Văn H xin được ly hôn và giải quyết các vấn đề liên quan, anh Lê Văn H có hộ khẩu thường trú, trú tại thôn B, xã N, tỉnh Hưng Yên. Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập TAND tỉnh, TAND khu vực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Lê Văn H kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh, chị đã đăng ký kết hôn ngày 13/11/2010 tại UBND xã Đ (nay là xã N), do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Quá trình giải quyết, chị L khẳng định vợ chồng không tin tưởng nhau, không hạnh phúc, đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng ly thân từ tháng 02/2025, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau, lời trình bày của chị phù hợp với lời khai của ông Lê Văn M là bố đẻ anh H và phù hợp với lời trình bày của bà Hoàng Thị L1 là mẹ đẻ chị L. Mặc dù quá trình giải quyết anh H có quan điểm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh mong muốn vợ chồng hoà giải đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung nhưng trong suốt quá trình giải quyết, anh H đã được triệu tập nhiều lần nhưng anh không đến tham gia hoà giải, không thể hiện thiện trí để vợ chồng đoàn tụ, trường hợp chị L cương quyết xin ly hôn anh cũng nhất trí. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho chị L được ly hôn với anh H.
3. Về nuôi con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Lê Gia B1, sinh ngày 30/7/2011 và cháu Lê Bảo V, sinh ngày 02/3/2018. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, chị nhất trí giao cháu B1 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung; cháu V có nguyện vọng chung sống cùng chị L, còn cháu B1 có nguyện vọng chung sống cùng anh H. Xét nguyện vọng xin được nuôi dưỡng con chung của cả hai anh chị đều chính đáng, cả hai anh chị đều có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do các cháu còn nhỏ cần chăm sóc trong thời gian dài nếu giao cả hai cháu cho một người chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ gây khó khăn và làm ảnh hưởng đến quá trình học tập, phát triển của các cháu. Vì vậy nên để cả hai anh, chị đều được trực tiếp thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình cần giao Lê Gia B1 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Lê Bảo V cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, phù hợp nguyện vọng của các cháu cũng như phù hợp với quy định của pháp luật. Do chị L không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung và anh H chưa có quan điểm trình bày trực tiếp nên không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào anh, chị có yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác. Sau khi ly hôn chị L, anh H có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung; Công nợ chung của vợ chồng; Đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Do chị L không yêu cầu, anh H vắng mặt chưa có ý kiến và yêu cầu phân chia trực tiếp nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào anh H, chị L có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Chị L phải chịu án phí theo quy định.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dâm sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử;
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Lê Văn H.
2. Về con chung:
- Giao cháu Lê Gia B1, sinh ngày 30/7/2011 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Giao cháu Lê Bảo V, sinh ngày 02/3/2018 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Việc đóng góp nuôi con chung không phải đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh H, chị L có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3.Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03; công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Không đặt ra giải quyết. Khi nào chị Hoàng Thị L, anh Lê Văn H có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu số 0000707 ngày 19/8/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị L đã thi hành xong phần án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về xin ly hôn
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 41 ngày 30/09/2025 về Xin ly hôn giữa chị L và anh H
