Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-11-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng và Ông Phạm Xuân Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11- Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 180/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2025, về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Vy Thị G, sinh ngày 20/4/1985; SỐ CCCD [...], cấp ngày 13/08/2021; Địa chỉ: Thôn T, xã Y, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh ngày 07/5/1985; Số CCCD: [...]; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã Y, thành phố Hải Phòng. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt.
  3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Í, sinh năm 1958. Địa chỉ: Thôn T, xã Y, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
  4. Người được chị G ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số nhà B, khu A, phường T, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vy Thị G trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Phạm Văn L được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã Y, thành phố Hải Phòng) vào ngày 01/12/2006. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại địa phương, cuộc sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, giữa anh chị không có sự chia sẻ, thông cảm khiến mỗi lần nói chuyện đều xảy ra tranh cãi. Đến tháng 4/2014, anh L đi lao động tại Đài Loan, do cuộc sống vợ chồng đã có những mâu thuẫn từ trước, nay anh chị mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm liên lạc nên tình cảm vợ chồng không còn. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L theo quy định.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Hoàng H1, sinh ngày 08/5/2007 và Phạm Huy H2, sinh ngày 08/5/20007, hiện nay các con chung đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của bà Nguyễn Thị Í (mẹ đẻ của anh Phạm Văn L) thể hiện: Anh L hiện đang sinh sống tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể thì bà không biết, nhưng anh L thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh L biết. Bà xác nhận anh L và chị G được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống, chị G nhiều lần chuyển ra ngoài thuê nhà ở, do bất đồng về cách sống và kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn. Gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Thời gian sau này anh L đi lao động tại nước ngoài thì vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Chị G có đơn xin ly hôn, bản thân bà mong muốn anh chị bỏ qua mâu thuẫn để cùng đoàn tụ, còn việc có tiếp tục chung sống hay không là quyền quyết định của anh chị. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, bà đã thông báo cho anh L biết. Anh L không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với bà qua điện thoại và xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, giữa anh chị không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Chị G cương quyết muốn ly hôn thì anh cũng phải chịu và đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Chị G và anh L kết hôn hợp pháp và chuyển về sinh sống tại địa phương. Trong cuộc sống anh chị hay xảy ra mâu thuẫn. Thời gian sau này, anh L đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị G có đơn xin ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vy Thị G, người làm chứng bà Nguyễn Thị Í vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Anh Phạm Văn L vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 Hải Phòng phát biểu quan điểm:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn giấu địa chỉ.
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho chị Vy Thị G được ly hôn anh Phạm Văn L; Về án phí: Chị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. [1.1] Anh Phạm Văn L hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh thôn T, xã Y, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng.
    2. [1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị G không cung cấp được địa chỉ của anh L tại Đài Loan. Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng đã yêu cầu chị G và gia đình anh L cung cấp địa chỉ, nhưng chị G và gia đình anh L không cung cấp được. Bà Nguyễn Thị Í (là mẹ đẻ của anh L) xác định anh L vẫn liên lạc với gia đình, bà đã thông báo về việc chị G có đơn xin ly hôn, anh L không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân khu vực 11- Hải Phòng tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
    3. [1.3] Tại phiên tòa, chị G, bà Í vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt; Bị đơn anh L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
  2. Về nội dung:
    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vy Thị G và anh Phạm Văn L kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã Y, thành phố Hải Phòng) ngày 01/12/2006, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thực tế vợ chồng anh chị mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Anh Phạm Văn L không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh L xác định vợ chồng có mâu thuẫn, chị G cương quyết xin ly hôn thì anh cũng phải chịu và đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị G và anh L đã trầm trọng, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Vy Thị G ly hôn anh Phạm Văn L là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
    2. [2.2] Về con chung: Chị Vy Thị G và anh Phạm Văn L có hai con chung là Phạm Hoàng H1, sinh ngày 08/5/2007 và Phạm Huy H2, sinh ngày 08/5/2007, hiện nay các con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
    3. [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị G và anh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
  3. Về án phí: Nguyên đơn chị Vy Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án ngày 25/6/2025; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vy Thị G ly hôn anh Phạm Văn L.
  2. Về án phí: Chị Vy Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003040 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Vy Thị G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Anh Phạm Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV 11 Hải Phòng;
  • - Các đương sự;
  • - THADS TP. Hải Phòng;
  • - UBND xã Yết Kiêu, TP. Hải Phòng
  • (để ghi sổ hộ tịch, kết hôn năm 2006);
  • - Lưu HS, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Vy Thị Giang ly hôn anh Phạm Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger