|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 41/2025/HNGĐ-PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Ngày: 27-11-2025
V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
Các Thẩm phán:
- Bà Trịnh Thị Phúc
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 39/2025/TLPT-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung”.
Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - tỉnh Tây Ninh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh).
- Bị đơn: Bà Hà Thị L, sinh năm: 1985. Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1963. Địa chỉ: số B Cư xá P, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1983. Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang (nay là ấp M, xã N, tỉnh An Giang).
- 3.2 Bà Trần Thị Kim T1, sinh năm: 1984. Địa chỉ: C ấp N, xã L, thành phố T, tỉnh Long An (nay là số C, ấp N, phường K, tỉnh Tây Ninh).
- Người đại diện theo ủy quyền:
- - Ông Nguyễn Đình Quốc S, sinh năm: 1995. Địa chỉ: số F đường B, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là 60A đường B, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
- - Ông Đoàn Văn D, sinh năm: 1975. Địa chỉ: âp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- 3.3 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An ( nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tây Ninh.
- Người làm chứng: ông Hà Văn T2, sinh năm: 1962. Địa chỉ: ấp A xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh).
- Người kháng cáo: Bà Hà Thị L, bà Trần Thị Kim T1, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Nhật T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 26/11/2024, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Nguyễn Nhật T trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Ông T và bà Hà Thị L chung sống với nhau năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Long An ngày 05/8/2008. Trong quá trình chung sống ông T có mua đất của ông Hà Văn T2 (là ba vợ ông T) diện tích đất chiều ngang 6m, chiều dài 43m, tổng diện tích 258m², số tiền là 10.000.000 đồng, có làm hợp đồng bằng giấy tay và có người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình tách thửa đất sang tên để giảm phải đóng tiền thuế do hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên ra công chứng làm hợp đồng tặng cho, cha cho con ruột nên ông T để cho vợ là bà Hà Thị L đứng tên để không phải nộp thuế, từ khi mua đất ông T, bà L có xây dựng căn nhà cấp 4, lợp tole gắn liền với diện tích đất trên. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 006280 cấp ngày 26/11/2020 cho bà Hà Thị L, nhưng thực chất nhà và đất này là tài sản chung của vợ chồng vì đây là đất nhận chuyển nhượng chứ không phải tặng cho.
Theo Bản án số 42/2022/DS-ST ngày 23-5-2022 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa vợ ông T là bà Hà Thị L phải trả cho bà Trần Thị Kim T1 số tiền 573.944.000 đồng.
Theo Bản án số 123/2023/DS-ST ngày 29-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa buộc ông Nguyễn Nhật T và bà Hà Thị L có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng.
Khi đến giai đoạn thi hành án, việc bán đấu giá tài sản là thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 03, diện tích 227,5m² loại đất chuyên trồng lúa nước và căn nhà cấp 4, lợp tole gắn liền với thửa đất trên được số tiền là 575.240.000đồng, nhưng việc thanh toán tiền cho người được thi hành án không thống nhất do bà Trần Thị Kim T1 cho rằng nhà đất là tài sản riêng của bà L nên phải thi hành hết số tiền cho bà T1, còn phía bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Nhật T cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà L nên cần phải chia đôi để thi hành án theo quy định của pháp luật. Do có tranh chấp khoản tiền bán đấu giá tài sản nên Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa chỉ thanh toán ½ số tiền cho bà T1, còn 1/2 số tiền còn lại gửi tiết kiệm và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa có thông báo hướng dẫn ông phải nộp đơn ra Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Yêu cầu công nhận thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 03, diện tích 227,5m², loại đất chuyên trồng lúa nước và căn nhà cấp 4, lợp tole gắn liền với thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông và bà Hà Thị L. Nhà và đất tọa lạc tại ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
- Chia 2 giá trị căn nhà cấp 4 và diện tích thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 03. Tôi được nhận số tiền là 229.570.370 đồng.
- Theo kết quả bán đấu giá thành của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa đối với thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 03, diện tích 227,5m² và căn nhà cấp 4 số tiền là 575.240.000 đồng, số tiền này chưa trừ đi các khoản phí kê biên, đấu giá tài sản và chi phí khác.
Bị đơn bà Hà Thị L trình bày: Theo yêu cầu của ông T thì bà L đồng ý. Bà L và ông T đã sống ly thân từ năm 2022, trong thời gian chung sống vợ chồng hây mâu thuẫn về tiền bạc nên bà L tự đi làm không hỏi ý kiến ông T, coi như mạnh ai nấy làm và bà L bị nợ nhưng bà L cũng không nói cho ông T biết, bà L ráng làm để trả nợ nhưng không ngờ nợ càng ngày càng lúng và bà L bể nợ. Bà L đi làm công nhân và ở trọ, để ba đứa con cho ông T nuôi, trên đất có căn nhà cấp 4, do vợ chồng cùng xây dựng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim T1 do ông Nguyễn Đình Quốc S là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án này, bà T1 không đồng ý vì các lý do sau:
Nguyên trước đây, bà T1 có nhận thế chấp quyền sử dụng đất của bà Hà Thị L đối với thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 3, địa chỉ ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An để đảm bảo cho khoản vay 480.000.000 đồng, thời hạn vay 09 tháng kể từ ngày 02/04/2021 đến hết ngày 02/01/2022 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã được Văn phòng C1, tỉnh Long An chứng thực ngày 02/04/2021, số công chứng 1802. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng bà L vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên bà T1 đã khởi kiện bà L. Tại Bản án số 42/2022/DS-ST ngày 23 tháng 05 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An quyết định: “Buộc Hà Thị L phải trả cho bà Trần Thị Kim T1 số tiền (473.516.000 đồng + 100.428.000 đồng = 573.944.000 đồng. Bà L không tự nguyện thi hành án, nên bà T1 đã làm đơn yêu cầu thi hành án theo Quyết định thi hành án số 771/QĐ-CCTHADS của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An ngày 01/08/2022. Quá trình thi hành án, bà T1 tiếp tục yêu cầu kê biên tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 4485, địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An của bà Hà Thị L để thi hành án. Ngày 10/05/2024, bà T1 tham gia đấu giá và trúng đấu giá là 575.240.000 đồng. Bà T1 đã thanh toán đầy đủ tiền mua tài sản đấu giá và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà người trúng đấu giá cần thực hiện. Sau khoảng 01 tháng kể từ ngày đấu giá thành, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tiến hành cưỡng chế thi hành án (lần 1) buộc bà Hà Thị L phải bàn giao tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 3, địa chỉ: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An cho bà T1. Phải mất nhiều thời gian thì tới lần cưỡng chế thứ 2, bà L mới chịu bàn giao tài sản nêu trên.
Nay, Bà T1 không đồng ý với yêu cầu của ông T khởi kiện bà L xác định quyền sử dụng đất và nhà là tài sản chung với các lý do sau:
- Thứ nhất, quyền sử dụng đất tại thửa 4485, tờ bản đồ số 3, địa chỉ ấp A, xã M, huyện T, Long An là tài sản riêng của bà Hà Thị L có nguồn gốc được nhận tặng cho riêng và ghi nhận rõ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 006280 do Sở TN&MT tỉnh L cấp ngày 26/11/2020.
- Thứ hai, bà Hà Thị L đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa 4485, tờ bản đồ số 3, địa chỉ ấp A, xã M, huyện T, Long An với bà T1 nhiều lần vào ngày 02/12/2020, 31/12/2020, 02/03/2021, 02/04/2021. Tất cả các hợp đồng này đều được công chứng hợp pháp, đúng quy định tại Văn phòng C1. Công chứng viên đã xác định QSDĐ tại thửa 4485 là tài sản riêng của bà L nên chỉ có một mình bà L đứng tên bên thế chấp trong các giao dịch này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tây Ninh) trình bày:
Căn cứ Quyết định thi hành án số 771/QĐ.THA ngày 01/8/2022 thì bà Hà Thị L, ngụ tại ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Trần Thị Kim T1 số tiền 573.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án. Án phí phải nộp 26.957.760 đổng.
Căn cứ xác minh tại Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa cho thấy ngày 09/8/2022 ông Nguyễn Nhật T, ngụ tại ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Long An có đơn khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp tài sản chung vợ chồng với bà Hà Thị L. Ngoài tài sản đang tranh chấp thì bà Hà Thị L không còn tài sản nào khác.
Căn cứ các biên bản làm việc ngày 10/10/2024, ngày 21/10/2024, ngày 23/10/2024 về việc xử lý tiền bán đấu giá thành tài sản kê biên thì các bên đương sự không có thắc mắc khiếu nại gì về việc kê biên xử lý tài sản và giao tài sản đấu giá thành. Đối với việc phân phối tiền thì các bên đương sự đề nghị sau khi xử lý các khoản án phí, chi phí, cưỡng chế và khoản tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 115 Luật thi hành án dân sự thì chi trả cho bà Trần Thị Kim T1 theo Quyết định cưỡng chế số 08/QĐ-THA ngày 15/3/2023 số tiền trên theo quy định. Đối với số tiền còn lại là 229.570.370 đồng thống nhất gởi tiết kiệm và thông báo cho các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định. Số tiền đang còn tạm thu tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa là 3.495.700 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T yêu cầu công nhận thửa đất số 4485, tờ bản đồ số 03, diện tích 227,5m², loại đất chuyển trồng lúa nước và căn nhà cấp 4, lợp tole gắn liền với thửa đất trên là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà L . Chia 1/2 giá trị tài sản là căn nhà cấp 4 và diện tích đất nêu trên tương đương số tiền là 229.570.370đồng để thi hành án theo Quyết định của Thi hành án là tôi đồng ý, vì tài sản này là tài sản chung của vợ chồng ông T và bà L. Tôi không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Tại Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh) đã tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với bà Hà Thị L về việc yêu cầu xác định giá trị phần tài sản gắn liền với thửa đất số 4485 tờ bản đồ số 3 diện tích 227,5m² loại đất trồng đất tọa lạc tại ấp A xã M, huyện T, tỉnh Long An là tài sản chung của ông T và bà L.
- Xác định số tiền ông Nguyễn Nhật T được chia là 131.000.000 đồng. Ông T liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa để nhận số tiền được chia.
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T đối với bà Hà Thị L về việc yêu cầu xác định giá trị thửa đất số 4485 tờ bản đồ số 3 diện tích 227,5m² loại đất trồng đất tọa lạc tại ấp A xã M, huyện T, tỉnh Long An là tài sản chung của ông T và bà L.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Ngày 19/6/2025 ông Nguyễn Nhật T; ngày 20/06/2025 bà Hà Thị L; ngày 19/6/2025 bà Nguyễn Thị C kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định thửa đất 4485 là tài sản chung, yêu cầu chia đôi.
Ngày 23/6/2025 bà Trần Thị Kim T1 kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, xác định toàn bộ tài sản thửa đất 4485 và nhà trên đất là tài sản riêng của bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp thêm chứng cứ mới, các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày của mình trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử xác định thửa đất 4485, diện tích 227,5m² và giá trị tái sản gắn liền với đất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông T, bà L. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Hà Thị L, bà Trần Thị Kim T1, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Nhật T được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Tuy nhiên, đối với kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C. Xét thấy, bà C có đơn kháng cáo đề ngày 19/6/2025, cùng ngày 19/6/2025 bà C có đơn xin miễn tạm ứng án phí và án phí phúc thẩm do bà C là người cao tuổi, nhưng theo căn cước công dân bà C thể hiện bà C sinh năm 1968. Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi quy định: "Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên". Theo quy định trên thì bà C chưa được coi là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nhưng TAND khu vực 1 - Tây Ninh sau khi nhận đơn kháng cáo của bà C, nhưng không thực hiện thủ tục theo quy định tại khoản 1, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự là thông báo cho bà C về việc bà C có được miễn án phí theo quy định hay không hoặc thông báo cho bà C phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, đây là thiếu sót, cần phải rút kinh nghiệm.
[2] Về nội dung: Ông Nguyễn Nhật T, bà Hà Thị L, bà Nguyễn Thị C kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng xác định thửa đất 4485 là tài sản chung của ông T và bà L; bà Trần Thị Kim T1 kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, xác định toàn bộ tài sản là thửa đất 4485 và nhà trên đất là tài sản riêng của bà L. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi kháng cáo.
[2.1] Xét thấy, ông Nguyễn Nhật T và bà Hà Thị L chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, ngày 05/8/2008. Đến năm 2010, ông Hà Văn T2 (cha vợ ông T) do khó khăn nên có bán một phần đất tại thửa 2384, diện tích 227,5m² bán cho ông T. Khi bán có làm giấy mua bán đất thể hiện tại tờ giấy viết tay thể hiện "Giấy hợp đồng bán đất" ngày 08/5/2010 có nội dung thể hiện ông T2 có bán cho ông T diện tích đất 258m², hình thức thanh toán tiền một lần số tiền 10.000.000đồng có người làm chứng là ông Lê Văn N, ông Hà Ngọc T3, ông Hào Văn Q ký tên vào Giấy hợp đồng bán đất này, đồng thời các người con của ông Hà Văn T2 là ông Hà Văn Q1, Hà Văn T4, Hà Văn T5, Hà Văn H và Lê Văn N (người làm chứng trong giấy tay bán đất) đều xác định ông T2 có bán phần đất trên cho ông Nguyễn Nhật T. Ngoài ra, bà L, ông T, ông T2 đều thừa nhận năm 2010 ông T2 có bán đất cho ông T một phần thửa đất 2384 diện tích 227,5m², loại đất trồng lúa nước với giá 10.000.000đồng, ông T2 thừa nhận đã nhận đủ tiền của ông T là 10.000.000đồng đã giao đất cho ông T từ năm 2010. Sau khi mua đất thì ông T, bà L cất nhà ở và quản lý sử dụng đất ổn định từ năm 2010 cho đến nay, căn nhà này là nơi ở chính của gia đình ông T và bà L, không còn căn nhà nào khác. Do bà L, ông T2 không có tiền làm nhà xong cứ ở đến năm 2020 thì mới làm thủ tục tách thửa sang tên, nhưng khi làm thủ tục nếu ông T2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T thì phải đóng thuế và diện tích đất 227,5m², loại đất trồng lúa nước không đủ điều kiện tách thửa, nên ông T2 phải làm hợp đồng tặng cho bà L để không phải đóng thuế và được tách thửa (vì ông T2 và bà L là cha con ruột) nên phần đất ông T2 bán cho ông T được bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T, bà L đều xác định thửa đất 4485, diện tích 227,5m² là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Căn cứ quy định Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:
"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".
Như vậy, theo quy định trên thì có cơ sở xác định quyền sử dụng đất tại thửa 4485, diện tích 227,5m² và nhà trên đất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông T, bà L, nên ông T được chia ½ giá trị sau khi bán đấu giá số tiền còn lại là 229.570.370 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định quyền sử dụng đất đứng tên một mình bà L do thông qua hợp đồng tặng cho từ ông T2 qua bà L, nên xác định quyền sử dụng đất đang tranh chấp là tài sản riêng của bà L là không phù hợp với quy định.
[2.2] Từ những nhận định trên: Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bà Hà Thị L, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Nhật T có căn cứ nên chấp nhận; kháng cáo của bà Trần Thị Kim T1 không có căn cứ nên không chấp nhận.
[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Bà Hà Thị L, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Nhật T không phải chịu án phí do kháng cáo được chấp nhận, bà Trần Thị Kim T1 phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hà Thị L, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Nhật T; không chấpnhận kháng cáo của bà Trần Thị Kim T1,
Sửa một phần Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 47/2025/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh).
Căn cứ các khoản 2 Điều 28, Điều 35 và Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 296 và Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 27, 30, 33, 38, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nhật T về việc yêu cầu chia ½ giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số tiền là 229.570.370 đồng.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Nguyễn Nhật T phải chịu 11.478.500đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.739.000 đồng theo biên lai thu số 0009364, ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tây Ninh), ông Nguyễn Nhật T còn phải nộp tiếp số tiền 5.739.500đồng.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Hoàn trả cho bà Hà Thị L, ông Nguyễn Nhật T số tiền đã nộp mỗi người 300.000đồng theo các biên lai thu số 0009808 ngày 19/6/2025 và số 0009817 ngày 23/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa; bà Nguyễn Thị C không có nộp tiền án phí phúc thẩm nên không hoàn lại. Bà Trần Thị Kim T1 phải nộp 300.000đồng nhưng bà T1 được khấu trừ số tiển tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0009820, ngày 24/06/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Tây Ninh).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Ông Nguyễn Nhật T được chia số tiền 229.570.370 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu, năm trăm bảy mươi nghìn, ba trăm bảy mươi đồng). Số tiền này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa đang tạm giữ.
Nơi nhận:
- - TAND tối cao tại TP.HCM;
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - TAND khu vực 1 - Tây Ninh;
- - Phòng THADS khu vực 1 - Tây Ninh;
- - Các đương sự
- - Lưu HS, lưu án văn.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trịnh Thị Phúc – Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Phùng Thị Cẩm Hồng |
Bản án số 41/2025/HNGĐ-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp chia tài sản chung
- Số bản án: 41/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
