Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

Bản án số: 41/2025/DS-ST

Ngày: 29 - 9 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Hương và ông Nguyễn Văn Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/TLST-DS ngày 28/7/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 91/2025/QÐST-DS ngày 25/9/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q1 các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Địa chỉ: Số C T, phường V - Q (phường H, quận Đ cũ), thành phố Hà Nội

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Ngân hàng T3

Địa chỉ: Số A, phố T, phường H (Phường N cũ), thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T– Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Nhật H– Phó Tổng giám đốc (Theo giấy ủy quyền số 138/2025/GUQ-VCBNeo ngày 11/3/2025 của Tổng giám đốc Ngân hàng T3

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hoài N– Phó giám đốc ban Công nợ, ông Chu Hữu C– Chuyên viên cao cấp Ban công nợ, ông Nguyễn Hồng Q– Trưởng nhóm Ban Công nợ, ông Trương Đình T1– Chuyên viên cao cấp Ban công nợ Ngân hàng T3(theo giấy ủy quyền số 1193/2025/GUQ-VCBNeo ngày 18/8/2025 của Phó Giám đốc Ngân hàng T3. Ông Trương Đình T1 – có mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Văn P năm 1983 – vắng mặt.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn F, xã Q (xã Q, huyện Q), tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/7/2024 của Công ty TNHH MTV Q1 các tổ chức tín dụng Việt Nam (V, quá trình giải quyết vụ án ông Trương Đình T2 diện theo ủy quyền lại của người thừa kế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn (Ngân hàng T3) trình bày:

Ngày 01/6/2021, ông Hồ Văn P1 ký Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 với ngân hàng T4. Theo đó, Ngân hàng cho ông Hồ Văn P2 số tiền 1.500.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm triệu đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay: 180 tháng (từ ngày 08/6/2021 đến ngày 08/6/2036); Lãi suất vay: Lãi suất vay ban đầu là 9,9%/năm trong vòng 24 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 07/6/2023. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 3.7%/năm, nhưng không vượt quá lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Pháp luật (nếu có). Lãi trên nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn trả nợ: Nợ gốc: Vào ngày 30 hàng tháng; Nợ lãi: Vào ngày 30 hàng tháng. Nợ gốc được trả thành: 180 kỳ. Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 8.334.000 đồng. Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 8.214.000 đồng.

Ngày 01/10/2021 ông Hồ Văn P3 Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 với ngân hàng T4. Theo đó, Ngân hàng cho ông P2 số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Thời hạn vay: 180 tháng (từ ngày 02/11/2021 đến ngày 02/11/2036). Lãi suất vay: Lãi suất vay ban đầu là 9,9%/năm trong vòng 24 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 03/11/2023. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 3.7%/năm, nhưng không vượt quá lãi suất cho vay tối đa theo quy định của Pháp luật (nếu có). Lãi trên nợ gốc quá hạn : Bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Thời hạn trả nợ: Nợ gốc: Vào ngày 30 hàng tháng; Nợ lãi: Vào ngày 30 hàng tháng. Nợ gốc được trả thành: 180 kỳ. Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 16.667.000 đồng. Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 16.607.000 đồng.

Để bảo đảm hai khoản vay trên, ông Hồ Văn P1 ký với ngân hàng T4 hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm:

  • + Hợp đồng thế chấp số: 60/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/06/2021 được công chứng tại Văn phòng C1(số công chứng: 1146, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD). Tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất 285, tờ bản đồ số 37, diện tích 525 m², địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, TP.theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 114243, do Sở T5 tỉnh Bcấp ngày 14/11/2019, số vào sổ cấp GCN: CS 22412 được đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ.
  • + Hợp đồng thế chấp số: 96/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/10/2012 được công chứng tại Văn phòng C2(số công chứng: 4425, quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD). Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thị xã P). Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất là tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.356 m², địa chỉ: địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T - Thành phố H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất số: BB 540820 do UNND huyện Tcấp ngày 18/6/2010, vào sổ cấp GCN: CH 00668 được được đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 29/9/2025, ông Hồ Văn P1 trả cho ngân hàng T4 tổng số tiền là: 1.194.407.387 đồng (Một tỷ một trăm chín mươi tư triệu, bốn trăm linh bảy nghìn ba trăm tám mươi bảy đồng). Trong đó trả nợ của từng hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021. Nợ gốc đã trả: 191.731.741 đồng, N1lãi đã trả: 276.093.522 đồng. Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 Nợ gốc đã trả: 300.006.741 đồng; Nợ lãi đã trả: 426.575.074 đồng.

Do ông Hồ Văn P1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 kể từ ngày 30/06/2023 (kỳ thanh toán vào ngày 30/06/2023 nhưng ông P7 trả nợ gốc và lãi đến hạn) và Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 kể từ ngày 30/5/2023 (kỳ thanh toán vào ngày 30/05/2023 nhưng ông P7 trả nợ gốc và lãi đến hạn). Do đó ngân hàng chuyển toàn bộ tiền nợ gốc của 2 hợp đồng sang nợ quá hạn.

Tạm tính đến hết ngày 29/9/2025, tổng số tiền ông Hồ Văn P4 nợ ngân hàng T4 tổng số tiền là: 5.535.775.415 đồng (năm tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm mười lăm đồng; trong đó:

  • + Tổng tiền nợ của hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 (tính đến hết ngày 29/9/2025) là 1.901.128.716 đồng; trong đó: Dư nợ gốc: 1.308.267.259 đồng; Tổng nợ lãi: 592.861.457 đồng ( nợ lãi trong hạn 67.281.354 đồng; lãi chậm trả lãi: 14.036.038 đồng; lãi quá hạn gốc: 511.341.300 đồng).
  • + Tổng tiền nợ của hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 (tính đến hết ngày 29/9/2025) là 3.634.646.699 đồng); trong đó: Dư nợ gốc hiện tại: 2.699.994.000 đồng; Tổng nợ lãi: 934.652.699 đồng (nợ lãi trong hạn 117.815.498 đồng; lãi chậm trả lãi: 25.382.342đồng; lãi quá hạn 791.454.859 đồng).

Yêu cầu Tòa án buộc ông Hồ Văn P5 thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng T6 nghệ số tính đến hết ngày 29/9/2025 với tổng số tiền là: 5.535.775.415 đồng; trong đó: Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 tổng số tiền là 1.901.128.716 đồng và Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 tổng số tiền là 3.634.646.699 đồng.

Ông Hồ Văn P6 còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số HĐTD số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021; HĐTD số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/11/2021 đã ký kết với ngân hàng kể từ ngày 29/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông Hồ Văn P7 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên đây thì ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất 285, tờ bản đồ số 37, diện tích 525 m², địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, TP .theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 114243, do Sở T5 tỉnh Bcấp ngày 14/11/2019, số vào sổ cấp GCN: CS 22412. Quyền sử dụng đất là tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.356 m², địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T - Thành phố H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất số: BB 540820 do UNND huyện Tcấp ngày 18/6/2010, vào sổ cấp GCN: CH 00668.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Hồ Văn P8 với ngân hàng. Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Hồ Văn P9 trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho ngân hàng.

Yêu cầu ông Hồ Văn P5 hoàn trả chi xem xét thẩm định tại chỗ cho ngân hàng số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hồ Văn P1 được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh P không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Hồ Văn P10 mặt nhưng tại biên bản tống đạt quyết định hoãn phiên tòa ngày 25/9/2025 anh Hồ Văn P11 tiếp ký nhận và có ý kiến đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho anh bán đất trả nợ ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • - Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn thực hiện đúng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
  • Bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của của BLTTDS.
  • - Đề nghị: Căn cứ Điều 280, 299, 323, 325, 351, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, 262 BLTTDS năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q1 các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ngân hàng T3

Buộc ông Hồ Văn P5 trả cho Ngân hàng T2số tổng số tiền tính đến hết ngày 29/9/2025 là 5.535.775.415 đồng (năm tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm mười lăm đồng). Trong đó: Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 là 1.901.128.716 đồng; Tiền gốc: 1.308.267.259 đồng; tổng tiền lãi: 592.861.457 đồng (lãi suất trong hạn 67.281.354 đồng; lãi suất chậm trả lãi: 14.036.038 đồng; lãi suất quá hạn gốc : 511.341.300 đồng. Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 là 3.634.646.699 đồng; Tiền gốc: 2.699.994.000 đồng; Tổng tiền lãi: 934.652.699 đồng (lãi suất trong hạn 117. 815.498 đồng; lãi suất chậm trả lãi 25.382.342đồng; lãi suất quá hạn gốc 791.454.859 đồng).

Trường hợp ông Hồ Văn P7 trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Thửa đất số 285, tờ bản đồ số 37, diện tích 525 m², địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, thành phố H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 114243, do Sở T5 tỉnh Bcấp ngày 14/11/2019, số vào sổ cấp GCN: CS 22412. Thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.356 m², đại chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, thành phố H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất số: BB 540820 do UNND huyện Tcấp ngày 18/6/2010, vào sổ cấp GCN: CH 0066.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ thì ông Hồ Văn P12 tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T2 Ngân hàng T2có nghĩa vụ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hồ Văn P13 Pthực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng T3.

*Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ: Ông Hồ Văn P5 chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Hồ Văn P9 nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ AnTại thời điểm ký kết các Hợp đồng với Ngân hàng ông P9 địa chỉ thường trú tại thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ AnHiện nay ông P14 sinh sống tại thôn F, xã Q, tỉnh Nghệ An. Mục đích vay để bù đắp tiền mua đất nên đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Nghệ An.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn là anh Hồ Văn P6 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt anh Hồ Văn P15

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu thanh toán khoản vay của ngân hàng T4 (nay là Ngân hàng T3).

Xét hợp đồng tín dụng 60/2021/22000/07.HĐTD/070 giữa ngân hàng T4 với cho anh Hồ Văn P6, theo đó ngân hàng giải ngân cho anh P vay số tiền 1.500.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 giữa ngân hàng T4 với cho anh Hồ Văn P16 đó ngân hàng giải ngân cho anh P2 số tiền vay số tiền 3.000.000.000 đồng được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái quy định của pháp luật, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức hợp đồng. Do đó hợp đồng các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực thi hành đối với hai bên và cần được pháp luật bảo vệ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 29/9/2025, anh Hồ Văn P1 trả cho ngân hàng T4 tổng số tiền là: 1.194.407.387 đồng (Một tỷ một trăm chín mươi tư triệu, bốn trăm linh bảy nghìn ba trăm tám bảy đồng). Trong đó trả nợ của từng hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 tiền gốc đã trả: 191.731.741 đồng, tiền lãi đã trả: 276.093.522 đồng. Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 tiền gốc đã trả: 300.006.741 đồng; tiền lãi đã trả: 426.575.074 đồng.

Quá trình thực hiện anh P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết và phải chịu mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ.

Do đó cần buộc anh Hồ Văn P5 trả nợ cho Ngân hàng T6 nghệ số với tổng số tiền tính đến ngày 29/9/2025 là: 5.535.775.415 đồng; trong đó: Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 tổng số tiền là 1.901.128.716 đồng; dư nợ gốc: 1.308.267.259 đồng; Tổng nợ lãi: 592.861.457 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 67.281.354 đồng; lãi chậm trả lãi: 14.036.038 đồng; lãi quá hạn gốc: 511.341.300 đồng). Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 tổng số tiền là 3.634.646.699 đồng; Dư nợ gốc hiện tại: 2.699.994.000 đồng; Tổng nợ lãi: 934.652.699 đồng (trong đó nợ lãi trong hạn 117. 815.498 đồng; lãi chậm trả lãi: 25.382.342đồng; lãi quá hạn 791.454.859 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2025) cho đến khi thi hành án xong; anh Hồ Văn P4 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 và hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của Nguyên đơn:

Để đảm bảo cho khoản vay của anh Hồ Văn P6 đã thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo các hợp đồng thế chấp gồm:

  • + Hợp đồng thế chấp số: 60/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/06/2021 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 285, tờ bản đồ số 37, diện tích 525 m², địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, TP .theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 114243, do Sở T5 tỉnh Bcấp ngày 14/11/2019, số vào sổ cấp GCN: CS 22412.
  • + Hợp đồng thế chấp số: 96/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/10/2021 tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.356 m², địa chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T - Thành phố H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất số: BB 540820 do UNND huyện Tcấp ngày 18/6/2010, vào sổ cấp GCN: CH 00668.

Hợp đồng thế chấp số: 60/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/06/2021 và Hợp đồng thế chấp số: 96/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/10/2021 được các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Trong trường anh P không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp là có căn cứ chấp nhận.

Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì anh P còn tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng đến khi trả hết nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo còn thừa sau khi đã thanh toán đầy đủ khoản nợ thì anh P được nhận lại. Trường hợp anh P tự nguyện thanh toán toàn bộ nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có trách nhiệm trả lại các giấy tờ liên quan đến đất thế chấp cho anh P15

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20 (nay là thửa số 112, tờ bản đồ số 36) tại Phường H, thị xã P, tỉnh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 548020 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 18/6/20210 có diện tích 1.356m2 đất trồng cây lâu năm cập nhật sang tên ông Hồ Văn P17 01/6/2021. Phía sát đường có tường rào, trụ cổng, trên đất trồng khoai mì. Thửa đất số 285, tờ bản đồ số 37, tại Phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàuđược Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh tỉnh Bcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 114243 ngày 14/11/2019 có diện tích 525m2 (đất ở 60m2, đất trồng cây lâu 465m2 mang tên ông Hồ Văn P18 đất không có công trình xây dựng.

[3] Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV Q1 các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nay người thừa kế quyền và nghĩa vụ là Ngân hàng T3 đã nộp số tiền chi phí tố tụng 3.000.000đồng (ba triệu đồng) và yêu cầu bị đơn anh Hồ Văn P6 phải hoàn trả chi phí này cho Ngân hàng. Vì yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên cần buộc anh Hồ Văn P6 phải trả lại cho Ngân hàng số tiền này.

[4] Về án phí: Anh Hồ Văn P6 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của tổng số tiền phải trả cho ngân hàng. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 351, 463, 466, 468, 500, 501, 502 Bộ luật dân sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ.

Căn cứ Điều 91, Điều 94 và Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2011 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q1 các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) nay người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ngân hàng T3.

Buộc anh Hồ Văn P6 phải trả cho Ngân hàng T2số tổng số tiền tính đến hết ngày 29/9/2025 là 5.535.775.415 đồng (năm tỷ năm trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn bốn trăm mười lăm đồng), trong đó:

  • + Hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 là 1.901.128.716 đồng); Trong đó: Tiền gốc: 1.308.267.259 đồng; tổng tiền lãi: 592.861.457 đồng (lãi suất trong hạn 67.281.354 đồng; lãi suất chậm trả lãi: 14.036.038 đồng; lãi suất quá hạn gốc : 511.341.300 đồng).
  • + Hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 là 3.634.646.699 đồng); trong đó: Tiền gốc: 2.699.994.000 đồng; Tổng tiền lãi: 934.652.699 đồng (lãi suất trong hạn 117. 815.498 đồng; lãi suất chậm trả lãi 25.382.342đồng; lãi suất quá hạn gốc 791.454.859 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2025) cho đến khi thi hành án xong; anh Hồ Văn P6 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 60/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/6/2021 và hợp đồng tín dụng số 96/2021/22000/07.HĐTD/070 ngày 01/10/2021 đã được ký kết giữa ngân hàng với ông Hồ Văn P15

Trường hợp anh Hồ Văn P6 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng T2Công nghệ số được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là:

  • + Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 285, tờ bản đồ số 37, diện tích 525 m², địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 114243, do Sở T5 tỉnh Bcấp ngày 14/11/2019, số vào sổ cấp GCN: CS 22412 mang tên Hồ Văn P6 theo Hợp đồng thế chấp số: 60/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/06/2021 được công chứng tại Văn phòng C1(số công chứng: 1146, quyển số 01/2021/TP/CC-SCC/HĐGD.
  • + Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 693, tờ bản đồ số 20, diện tích 1.356 m², đại chỉ: xã H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, thành phố H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác găn liền với đất số: BB 540820 do UNND huyện Tcấp ngày 18/6/2010, vào sổ cấp GCN: CH 0066 mang tên Hồ Văn P6 theo Hợp đồng thế chấp số: 96/2021/22000/08.1.HĐTC/070 ngày 01/10/2021 được công chứng tại Văn phòng C2(số công chứng: 4425, quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD).

Số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của anh Hồ Văn P8 với Ngân hàng T3. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo còn thừa sau khi đã thanh toán đầy đủ khoản nợ của anh Hồ Văn P6 được trả lại cho anh P15 Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh Hồ Văn P9 trách nhiệm cùng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng T3.

Trường hợp anh Hồ Văn P6 tự nguyện thanh toán toàn bộ nợ cho Ngân hàng T3 thì ngân hàng có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các giấy tờ liên quan đến thửa đất thế chấp cho anh Hồ Văn P15

2. Về chi phí tố tụng và án phí:

Anh Hồ Văn P6 phải trả cho Ngân hàng T6 nghệ số số tiền chi phí tố tụng mà Ngân hàng đã nộp tạm ứng là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Về án phí: Buộc anh Hồ Văn P5 chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 127.357.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn đồng).

Trả lại cho Ngân hàng T6 nghệ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 23.916.000đồng (Hai mươi ba triệu chín trăm mười sáu nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004075 ngày 08/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Đại diện Ngân hàng T2có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày tuyên án. Bị đơn anh Hồ Văn P10 mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 4;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/DS-ST ngày 29/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 41/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: NGân hàng TMCP TNHH QT1 Bị đơn: Anh Hồ văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger